CHÚ GIẢI THÁNH GIÁO: TIỄN HÀNH THÁNH MẠNG GIÁO ĐẠO TRUNG CHÂU

CHÚ GIẢI THÁNH GIÁO DẠY TỨ LINH ĐỒNG TỬ:

 TIỄN HÀNH THÁNH MẠNG GIÁO ĐẠO TRUNG CHÂU

Đồng tử Bạch Phụng

 Thánh Tịnh Đại Thanh, ngày 01/8/ĐĐ.09 (Giáp Tuất) (09/9/1934)

 THÀNH HOÀNG BỔN CẢNH, bữa nay là bữa Ta được vui cùng chư Thiên mạng, chước Tiên tửu, Ta tiễn hành một vần thơ.
Chú giải: Hồi ký Thanh Long ghi bài cơ này giáng đêm mồng 8/9/Giáp Tuất và cho biết phò loan là Kim Quy – Xích Lân. Trần Công Bang pháp đàn. Bạch Phụng – Trần Quang Châu độc giả, Lâm Hồng Hẩu điển ký. (Lúc này đồng tử Thanh Long đã về lại Quảng Nam). Bài này xem xét về lý thì ngày 01/8/Giáp Tuất đúng hơn vì trong bài điểm hồng danh chư vị tất cả đều nói đến các nhân vật còn sống trong đó có 2 tiền bối Lê Văn Liêm và Lê Văn Bặc. Hai tiền bối đã quy vị cách nhau 12 tiếng, Lê Văn Liêm mất vì sốt vào 12 giờ đêm mồng 2, rạng mồng 3 tháng 8 Giáp Tuất và 12 giờ trưa 3/8/GT Lê Văn Bặc mất cũng y tình trạng.

                                 THI
        Nghìn dặm xa xôi cánh nhạn trương,
        Kề vai xốc gánh Đạo lên đường;
        Ân THẦY bao quản thân vùi dập,
        Nghĩa bạn cùng chung gót trổi bươn.
        Quyết phá cho tan màn hắc ám,
        Toan xoay trở lại mối cang thường;
        Thân tu thiên hạ an bình đặng,
        Hồ thỉ nam nhi đáng để gương.
... Cười... Thôi, khá thành tâm cung thỉnh chư Tiên, Ta lui.
Chú giải:
-Mối cang thường: giềng mối đạo đức con người tam cang, ngũ thường theo Nho giáo.
-"Thân tu thiên hạ an bình đặng": nói lên nguyên lý tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của Nho giáo.
-Hồ thỉ: cung và tên. Tang hồ bồng thỉ: cung bằng gỗ dâu và mũi tên bằng cỏ bồng. Sự tích xưa nhà có con trai thì làm cung và tên như trên mà bắn ra bốn hướng để ngầm cầu cho đứa trẻ sau này thỏa chí nam nhi, giúp ích bốn phương thiên hạ, còn gọi là chí tang bồng.

       TIẾP ĐIỂN:
 ĐÔNG PHƯƠNG LÃO TỔ, Ta rất vui mừng cùng chư Thiên mạng, khai Tiên tửu đàn để chư Tiên tiễn hành Thánh mạng giáo Đạo Trung Châu.
                                THI
 Vạn lý quan san Thánh mạng truyền,
Trường đồ tận lực khả tri Thiên;
Đương vi phận sự thiên vi kế,
Nhứt nhựt đồ lao vạn sự Thiên.
 Chú giải:
-Vạn lý quan san: muôn dặm núi rừng biên ải, chỉ nơi xa xôi
-Trường đồ: đường dài, đường xa
- Đồ lao: sự mệt nhọc trên bước đường
Ý 4 câu thi: Đường xa vạn dặm ra đi theo mạng lịnh thiêng liêng. Đường dài nỗ lực hết sức mới biết mệnh trời. Lúc này nhận lãnh nhiệm vụ có ngàn cách để thực hiện. Mỗi ngày sự mệt nhọc trên hành trình đều nằm trong ý Trời.
                                BÀI 
       Thuyền lướt sóng lúc dồi lúc dập,
       Sóng bổ thuyền lượn thấp lượn cao;
           Gớm ghê cho cái phong trào!
       Bức tranh lắm thợ vẽ màu đỏ đen.
Chú giải:
Gớm ghê cho các xu hướng, phong trào trong xã hội đang nổi lên: Nào chủ nghĩa tư bản, vô sản; nào thuyết Duy tâm, Duy vật; nào phong trào giải phóng phụ nữ, bình đẳng, bình quyền… 
       Lò Tạo hóa đúc rèn nhân vật,
       Lòng người đem cải cách ý Trời;
              Té ra người hại lấy người,
        Người hư đời hoại lòng Trời chẳng yên.
Chú giải:
Con người không tuân theo ý Trời, luật Trời nên tự hoại cuộc sống chung. 
       Hội Phật Thánh Thần Tiên đủ mặt,
       Truyền Đông Tây Nam Bắc Đạo mầu;
              Khắp trong thế giới hoàn cầu,
        Nam bang vận hội Trời đâu riêng gì!
Chú giải:
Thầy quy tụ Phật Tiên Thánh Thần vùa giúp mở đạo cứu độ nhân loại trên toàn thế giới. 
       Nam đã đành Trung Kỳ đến lúc,
       Trung khó khăn cho cuộc hành trình;
              Đứng trong thời cuộc bất bình,
       Thử người cho biết thử mình cho cao.
       Ví dù có, có sao đi nữa,
       Trung với Thầy, Thầy hứa giúp cho;
              Miễn trò cho đáng phận trò,
        Phải lường nơi cạn, phải dò chỗ sâu.
Chú giải:
Dù có chuyện gì xảy ra, phải nhớ tận trung với Thầy, thì mọi sự sẽ xong, miễn lo tròn phận sự của người học trò Thượng Đế, cân nhắc đo lường kỹ càng. 
       Khá nhớ lời trước sau căn dặn,
       Gánh tang bồng nhẹ nặng đừng than;
              Chung một mối, rẽ đôi đàng,
       Chí trơ như đá, lòng an như đồng.
Chú giải:
Tiên báo trước sẽ có những người hôm nay chung gánh đạo, rồi có ngày tách đi hướng khác, nên khuyên gắng bền tâm chí như đá như đồng.
        Dầu có chi cũng không chi cả,
       Dặn lấy lòng nôn nả chưa xong;
              Đầy bề ngoài, đủ bề trong,
       Ngoại giao nội vụ mới xong cơ Trời.

Chú giải:
Tiên báo trước cơ Đạo phải chậm cho đến ngày lập thành Hội Thánh có đầy đủ Nội vụ, Ngoại vụ. 

       Thấy lòng người bật cười, cười nghẹn,
       Lấy ý người quên hẳn lòng Trời;
              Đinh Sửu Phát, Quang ra đời,
       Hiển không ưng dạ có lời bất ưng.
Chú giải:
-"Đinh sửu Phát Quang ra đời": tiên tri trước 1937, Cao Triều Phát, Trần Đạo Quang nhận Thánh lệnh ra Trung
-"Hiển không ưng dạ có lời bất ưng": Tiền bối Lê Trí Hiển không vui khi hai tiền bối Cao Triều Phát, Trần Đạo Quang về Quảng Nam vì các sự việc như sau:
* 15/2/Đinh Sửu Ông Xã Ngại Hà Tư và Giáo Mại- Nguyễn Đình Lý xin hiệu cho Thánh sở Trung Lộc (chùa Minh sư ở nơi đây), tiền bối Trần Đạo Quang đã cho hiệu Ngọc Vân mà không xin Thánh ý.
* Cụ Cao Triều Phát thì mang kinh chữ quốc ngữ ra phát cho đạo hữu, làm cho tiền bối Hiển không thích vì sợ bị coi thường kinh sách Cao Đài trong vùng còn nặng bởi Nho giáo, Hán học.
Về sau có cơ bút truyền từ Nam ra: “ Đạo Quang thất, Triều Phát kinh. Ngọc Vân, quốc ngữ con nhìn không xuôi”. Ơn trên khuyên cụ Hiển nên biết vận hội mới dùng quốc ngữ làm chính ngữ. Rồi Ơn Trên cũng hóa giải bằng cách giao Đức Quan Thánh đương nhiệm Tổng Lý, chuyển lệnh Giáo Tông ban cho Thánh sở Trung Lộc là Trung Quang Thánh thất (Ngọc Vân không còn nữa)  
Dần thành lập Trung Thành Thánh Thất,
       Là cái ngày Đạo mạch lưu thông;
              Hiển mích ý, Tỵ chích Long,
       Nhơn sanh trông thấy cũng không vui lòng.
Chú giải:
Tiên báo trước vào năm Mậu Dần – 1938 sẽ lập Thánh thất Trung Thành, từ đó mạch Đạo được chảy thông. Cũng trong khi tạo lập ấy, tiên báo trước là tiền bối Lê Trí Hiển sẽ có sự bất ý và lịch sử đã cho thấy khi đó tiền bối đã không ưng ý với việc tổ chức của các chức sắc miền Nam trong lễ Khánh thành, khai mở Long Vân đệ bát.  (Một số người vì tính cách lợi ích cá nhân đã dèm pha với cụ Hiển rằng người trong Nam ra đây đã không coi người miền Trung ra gì…). Ngoài ra còn có những lời kích bác rằng cụ Tỵ là người xây dựng thì phải điều hành cuộc lễ này khiến tiền bối Lê Kim Tỵ trách cứ tiền bối Nguyễn Phan Long trong công tác tổ chức. 
       Nông nỗi ấy chưa xong những nỗi,
       Mối Đạo Trời còn lối chông gai;
              Năm Kỷ Mão, Nông viện khai,
       Do Trần Hưng Đạo một tay thi hành.
Chú giải:
Tiên báo trước vào năm Kỷ Mão – 1939 sẽ mở chương trình tạo lập Nông viện mà đức Trần Hưng Đạo sẽ chịu trách nhiệm thực hiện. Cũng cho thấy qua lịch sử là từ năm này, đức Trần đã thay thế cho đức Quan Thánh làm Tổng Lý điều hành cơ Đạo miền Trung.
       Hội Vạn Linh nhơn sanh kinh cụ,
       Bảng Long Hoa chánh phủ chấm trường;
              Thử ai bá, thử ai vương,
       Cửa càng đóng lại thì đường rộng thênh.

Chú giải:
Xem lại lịch sử thì đây là tiên báo vào năm Kỷ Mão – 1939 cũng sẽ mở các kỳ Đại Tiểu hội Vạn linh mà công trạng của chư Tiền bối chức sắc đạo đồ được ghi lên bảng tuyển hội thi Long Hoa mà do tay chánh phủ khảo chấm.
-''Thử ai bá, thử ai vương'': Ý nói xem coi ai theo Bá đạo (ác), ai theo Vương đạo (thiện).
- ''Cửa càng đóng lại'': Trong giai đoạn sau đó, chính quyền Pháp đương thời đã ra lệnh đóng cửa các Thánh thất, vì nghi Cao Đài thân Phát xít Nhật, trên nóc các Thánh thất có chữ vạn giống hình chữ thập ngoặc của Đức quốc xã.

        Ngoài Chính phủ tính đem hà hiếp,
       Trong Tây Ninh thừa dịp nghênh ngang;
              Cười thay thế sự đa đoan,
       Mảnh thân đứng giữa trần hoàn mà ghê!

        Trong cơ quan lắm bề lận bận,
       Ngoài nhơn sanh xâm lấn đủ phương;
              Thấy người Hướng Đạo mà thương,
       Gánh chung thiên hạ sao vương lấy mình! 
Chú giải:
Một giai đoạn khảo đảo lớn từ phía chính quyền đối với Đạo, làm cho cơ Đạo rối ren khắp nơi, nhất là nơi vùng Tây Ninh. Các tiền bối Hướng đạo phải chịu cảnh bắt bớ tù đày. 
       Gánh mối Đạo, hy sinh vì Đạo,
       Thương nhơn sanh hoài bão nhơn sanh;
              Trời đâu phụ kẻ tâm thành?
      Tiểu đồng ra giúp đức tin cho đời. 
Chú giải: 
Giai đoạn này, để tạo và giữ đức tin vào nền Đạo mới, Ơn Trên đã cho cặp đồng tử nhỏ  tuổi (tiểu đồng) ngồi cơ. Theo Thánh lệnh 25/1/Kỷ Mão – 15/3/1939: cặp phò loan nữ đồng nhi: Trần Thị Bi, Thánh danhTuyết Hải, Phan Thị Diêu (1930) Thánh danh Tuyết Hà (khoảng 9-10t)(Lúc này Đồng tử Bạch Hổ ra Hà Nội học chữ Hán với cụ Thiều Chửu, Đồng tử Thanh Long thủ chấp cơ phần nội vụ)
Theo lời kể của Đồng Tân, trước năm 1945 tại tư gia nhà thân phụ của ông là Trần Hạc, cặp đồng tử Bi - Diêu thường cầm cơ và ông đã chứng kiến nhiều điều linh thiêng, để rồi ông cảm mộ và mong ước sau này trở thành đồng tử… 
       Lập Hội Thánh cho rồi mỗi mỗi,
       Ban cấp bằng sẽ hội nhơn sanh;
              Thưởng ban Trời đã sẵn dành,
       Làm cho mối Đạo lưu hành Bắc Trung.
Chú giải:
Đoạn thi cho biết năm Kỷ Mão sẽ tiến hành lập Hội Thánh và thực tế là Quyền Hội Thánh Trung Kỳ đã được thành lập tại TT Trung Thành. Theo kế hoạch giờ Ngọ, ngày rằm tháng giêng năm Kỷ Mão, trước Chức Sắc và toàn đạo Trung Nam, Hội Đồng Hướng Đạo long trọng dâng Đại Lễ cho toàn Chức Sắc, Chức Việc hành lễ thọ nhiệm. Tại Bửu điện, trước Thượng Đế, nhơn sanh, Đại diện Hội Vạn Linh Trung và Nam trao cấp bằng tức thẻ Giáo nhiệm cho quý Chức sắc Hội Thánh; Đại diện Hội Thánh trao cấp bằng cho Chức sắc Thánh thất tại địa phương. 
       Cơ thực tế dùng Nông viện trước,
       Các Ty đều lần lượt theo sau;
              Canh Thìn còn hỡi lao xao,
       Ngăn ngừa M.T xen vào khuấy chơi ...
Chú giải:
Trên thực tế chương trình Hội thánh lúc ấy đã lập nông viện rồi lo tổ chức học viện…
M.T: viết tắt của hai từ mật thám. Năm Canh Thìn – 1940, Ơn Trên cũng đã báo trước sự xâm nhập của mật thám Pháp xen vào cơ Đạo để quấy nhiễu… 
….. (một đoạn chỗ này bị thất lạc)
                    Đứng giữa cõi Trần,
                    Chìm nổi mảnh thân,
                    Ví dù nam nữ,
                    Ai cũng trọng phần.
                                                        Thôi, Ta lui.
TIẾP ĐIỂN: 
HẢI TRIỀU THÁNH NHƠN. Chào chư phận sự.
                               THI
Đúc mảnh thân ra giữa cõi trần,
Có thân phải chịu khổ cùng thân;
Gánh gồng nghĩa vụ thân Nam tử,
Quyết giũ cho xong mối nợ nần.
                               BÀI
            Nợ nần gánh vơi vơi trịu trịu,
       Cả đôi bên này hiếu này trung;
              Phong ba thử chí anh hùng,
       Ai tâm vì Đạo, ai trung vì THẦY .
 
        Trông thời cuộc đắng cay thê thảm,
        Ngắm nhơn tình hoài cảm nhơn tình;
              Đời chiến tranh, Đạo tương tranh,
       Kẻ ngăn phía trước, người giành phía sau 
                    Rất đỗi đớn đau ...
                                                Khá tiếp Ta lui.
TIẾP ĐIỂN: 
NAM CỰC TIÊN ÔNG, Tôn sư mừng các Hiền đồ.
                    TRƯỜNG THIÊN
           Vật nên giá rán bào rán đẽo,
       Đạo gặp thời kẻ kéo người lôi;
              Chỗ thì vá, chỗ thì bồi,
      Vá rồi lại lở, lở rồi vá lên.
Chú giải:
Ý nói đồ quý giá như gỗ được bào đẽo mới nên vật dùng đẹp, nghĩa bóng nói đến sự khảo đảo của nền Đạo bị tác động bởi nhiều phía. 
       Các  Hiền sắc chớ nên vô ý,
       Để mà coi từ Tý đến Thìn;
              Biết bao nông nỗi gập ghềnh,
       Bất bình mà đến hòa bình đó nghe.
Chú giải:
Từ Tý đến Thìn: từ năm Bính Tý 1936 đến năm Canh Thìn 1940. 
       BANG lòng chớ mựa hề thay đổi,
       GIANG nhớ rằng phước tội cũng ta;
              LONG lanh rọi khắp gần xa,
Bồng Sơn PHỤNG hiện, Lạc Hà ẩn QUY.
Chú giải:
-Bang: tiền bối Trần Công Bang, Ơn Trên nhắc báo nếu tâm không vững sẽ thay đổi. Và sau này lịch sử thực tế cho thấy tiền bối đã xa Thầy, không giữ Đạo, nặng theo xu hướng chính trị (dựa vào Phật giáo Nguyên thủy để đấu tranh).
-Giang: Thân Đức Giang, nhắc nhở tiền bối Thân Đức Giang việc phước hay tội cũng do nơi tâm mình.
-Long: Thanh Long, cho thấy đồng tử Thanh Long như ngọn đèn sáng soi rọi khắp gần xa.
-Phụng: Bạch Phụng, Quy: Kim Quy. Tiên tri sự ra đi sớm của đồng tử Bạch Phụng và đồng tử Kim Quy khi nói chim Phụng hiện về núi Bồng và sông Lạc rùa kia ẩn dạng. 
       LÂN vẹn dạ đừng nghi đừng ngại,
       CHÂU để lòng việc phải việc không;
              HẨU đặng quả, bởi nhiều công,
       QUẾ chi tú mậu cũng trong xuân thời.

Chú giải:
Lân: Xích Lân. Đồng tử Xích Lân được nhắc nhở về lòng nghi hoặc, lung lay đức tin. Thực tế, về sau khi đồng tử Bạch Phụng về Thầy sớm, đồng tử Kim Quy một cặp với Xích Lân gặp bệnh khó rồi quy liễu đã làm cho Xích Lân thối chí, quên lời minh thệ, đã rời bỏ đường tu. Lưu ý bài cơ này do đồng tử Xích Lân và Kim Quy phò loan mà nói về mình như thế cho thấy điển cơ hoàn toàn là Thánh điển.
Châu: Trần Quang Châu. Tiền bối Trần Quang Châu vai trò độc giả được nhắc nhở sự cẩn trọng.
Hẩu: Lâm Hồng Hẩu. Tiền bối Lâm Hồng Hẩu làm điển ký tại Đại Thanh được khen nhiều công.
Quế: có lẽ điểm danh ngài Trần Văn Quế chăng?
Quế chi tú mậu cũng trong xuân thời: Cành quế tươi tốt đẹp đẽ cũng trong tiết xuân, lúc xuân thôi. (Tú : tốt đẹp. Mậu : tốt tươi). 

       LIÊM phủi sạch nợ đời thong thả
       BẶC đường tu công quả đáng công,
              Muốn ăn quả, cây lo trồng
Mình không tìm quả, quả không tìm mình.

Chú giải:
Bốn câu này tiên báo sự ra đi của Tiền bối Lê Văn Liêm và Lê Văn Bặc. Hai vị đã đắc quả Lục My Chơn Thánh (Lê Văn Liêm) và Ngọc Quế Chi Lan Thần (Lê Văn Bặc). Thầy đem 2 tiền bối về Trời sớm để âm phò mặc hộ cho công cuộc truyền đạo Trung kỳ. 

       Cao phi hồng hộc minh minh./.

Chú giải:
-Cao phi: bay cao
-Hồng hộc: chim hồng và chim hộc là loại chim khỏe bay cao và xa.
“Yến tước an tri hồng hộc chi chí tai” (Sử ký – Trần Thiệp thế gia). Theo "Sử ký", Trần Thiệp lúc trẻ đi cày thuê. Khi nghỉ cày, Thiệp ngồi ra dáng buồn bã, phẫn uất một hồi lâu rồi nói rằng: “Nếu được phú quý không bao giờ quên nhau”. Mọi người phá lên cười mà nói lại rằng: “Nếu còn đi cày thuê thì làm sao mà giàu sang được”. Trần Thiệp thở dài nói: “Ta hồ, yến tước an tri hồng hộc chi chí tai” (Than ôi, loài chim én chim sẻ sao biết được chí chim hồng chim hộc)”.
“Yến tước” - 燕雀 – là chim én và chim sẻ, hai loài chim dùng để tỉ dụ người có chí khí tầm thường. “Chim hộc” thường đi cùng với “chim hồng”, thường nói là “hồng hộc”, chỉ hai loài chim bay cao lắm. Người xưa nói “hồng hộc chí” - 鴻鵠志 - để chỉ “chí làm việc lớn lao như chim hồng chim hộc bay cao” (theo “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh).
-Minh minh: Cao xa, thăm thẳm.
Câu cuối này muốn nói nghĩa bóng là chí khí người sứ mạng cao cả như chim hồng, chim hộc.

 * Qua bài Thánh giáo dạy trước ngày đoàn Tứ linh Đồng tử về Trung, chúng ta khám phá được cả một chương trình truyền đạo về Trung với bao nhiêu kế hoạch, với từng sự kiện, với từng con người đã được ấn định từ cõi vô hình (Thiên thơ) dưới những ẩn ngữ mà khi diễn ra rồi chúng ta mới chợt cảm nhận được!
    Học lại Thánh giáo Tứ Linh đồng tử về Trung chúng ta tăng thêm cho mình niềm tin về Ơn Cứu độ của Thầy Trời.

Vạn Ấn

 

  

0 Bình luận