• Trang chủ
  • Học Đạo
  • Sử Đạo
  • Nhạc Đạo
  • Tuổi Trẻ Trung Hưng
  • Tuyển tập Sống Đạo
  • Liên hệ
Học Đạo Cao Đài
"Chung một Đạo trong tình cốt nhục, Phải thương yêu giáo dục lẫn nhau; Người đau là tức mình đau, Người còn lầm lỗi ta nào không lây." " Chơn Giác Nương Nương – TTTH 3


                                     Thánh Thất

Thân tặng toàn đạo nam nữ các nơi. 

Đ.T. 

                         Anh có thấy một ngôi chùa mới mẻ.

                        Nêu tinh hoa của thế hệ muôn đời,

                        Nét quân bình cân đối tự ngàn xưa.

                        Đã hình hiện trong vô vàn kiến trúc. 

 

                        Đây BÁT QUÁI ĐÀI oai nghiêm và mực thước, 

                        Nơi Uy linh ngự trị của muôn loài. 

                        Mắt THIÊN THẦN soi sáng khắp nơi nơi,

                        Và điều động cả Càn khôn Vũ trụ. 

 

                        Đây sừng sững HIỆP THIÊN ĐÀI cao cả,

                        Nơi Thiên Nhân chung hiệp khối huy hoàng, 

                        Nơi Trời cao thị hiện ở nhân gian, 

                        Và dương thế cảm thông cùng Hoàn Vũ. 

 

                        Đây CỬU TRÙNG ĐÀI; nơi tinh anh kết tụ, 

                        Cõi nhân gian ngập ánh sáng soi đường.

                        Nơi Loài người làm chủ cả thế gian 

                        Và thâu tóm cả thạnh cao, mầu nhiệm ! 

 

                        Ba lĩnh vực, một tinh thần uyền chuyển,

                        Ba cơ quan, một hệ thống cứu đời.

                        Cũng có Người mà lại cũng có Trời,

                        Trong hình hữu có Vô Vi chế ngự!

 

                        Khi đến đây, ta thấy mình bé nhỏ,

                        Vì vô biên Vũ  trụ đã thu hình.

                        Ta trông vào như thấy cả Uy linh

                        Có Thiên diễn và Con người tấn hóa! 

 

                        Lòng trong sạch, ta bước chân nhè nhẹ,

                        Tâm hư không, ta tiến đến Thiên bàn

                        Dâng khối chân thành cố kết tại nhân gian,

                        Để hòa hợp với Tâm linh Vũ trụ. 

 

                        Ta sẽ thấy Tâm hồn ta phơi phới.

                        Như vươn lên ngoài vạn cổ chân mây.

                        Không còn riêng tư, ganh ghét với ngu si,

                        Vì đã chịu khép mình trong thành kiến! 

                        Là, Tôn giáo, là nguồn chung lẽ sống

                        Không riêng ai mà của cả loài người.

                        Hãy bước chân vào ngưỡng cửa CAO ĐÀI,

                        Anh sẽ thấy ngôi nhà chung hình hiện. 

 

                        Có PHẬT, có CHÚA, có TIÊN, và có THÁNH,

                        Có muôn phương của Sáng tạo Nhân quần.

                        Trong chân thành, tình đạo sẽ lên men, 

                        Và cao cả làm thơm ngôi Thánh thất ! 

 

                        Những cũ kỹ của ngàn xưa sẽ mất,

                        Những nguyên nhân gây tệ hại không còn.

                        Ta mới vào trong Bí nhiệm Càn khôn,

                        Để kiến tạo một ngày mai hạnh phúc! 

                                                                            ĐỒNG TÂN 

                                                                     (trích Thi-Tập 61) 

 

CAO ĐÀI, DANH HIỆU CỦA SỰ GIẢI THOÁT

Bài của Thanh Đạo

 Danh hiệu Cao Đài từ 39 năm nay đến với thế gian đem lại cho nhân loại một nguồn tin mới: Sự giải thoát toàn diện.

Đức Thượng Đế mượn danh lập Đạo là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Điều đó người tín đồ Cao Đài tin tưởng bao nhiêu, thì cũng gây cho quần chúng ít nhiều sự phân vân lạ tai khó hiểu.

-       Vậy Cao Đài là gì?

-       Tại sao đức Thượng Đế phải mượn danh hiệu Cao Đài mà lập đạo?

-       Danh hiệu “Cao Đài” cần thiết cho nhơn loại thế nào?

Đó là ba câu hỏi, mà sự liên hệ của đời sống mọi người trong thế gian lần lượt sẽ thấy cần nghiên cứu chiêm nghiệm để hiểu rõ.

Người tín đồ đạo Cao Đài tất nhiên phải tự giải đáp tinh tường cho mọi người quanh mình khi cần hiểu.

I. Định nghĩa “Cao Đài” là gì?

Theo Hán tự từ xưa đã định nghĩa: “Đầu Thượng viết Cao Đài”. Nghĩa là: Trên hết gọi là Cao Đài.

Theo Pháp văn trong Thánh ngôn hiệp tuyển gọi “Cao Đài, Le Très Haut” nghĩa là Tối Cao.

Vậy đấng Tối Cao là ai?

Là đấng Cao Cả trên hết mọi nguồn tư tưởng và tín ngưỡng của con người, tức là đức Thượng Đế, đức Chúa Trời.

II. Tại sao đức Thượng Đế phải mượn danh hiệu Cao Đài mà lập Đạo?

Trước khi giải đáp trọn câu, ta thử chiêm nghiệm tại sao đức Thượng Đế lại dùng chữ “tá danh” (nghĩa là mượn tên) mà không nói là “xưng danh”?

Nội hai chữ “tá danh” là cả một triết lý. Vì tất cả mọi tên gọi, mọi danh hiệu gì đã có trên thế gian đều do con người tạm đặt ra để kêu gọi để ghi nhớ cho dễ phân biệt như là đức Thích Ca, đức Lão Tử, cái bàn, cái ghế, hòn núi, con sông, mặt trăng, Trời, Phật, Thánh, Thần …

Truy nguyên, vạn vật vốn không có tên, mọi người vốn cũng không có tên.

Và sau khi tên đã đặt ra rồi thì người ta vì cái cần, cái yêu, cái ghét mà chú trọng đến tên, đến lâu ngày thành thói quen, quan trọng danh hơn thiệt mà có một thành kiến khẳng định.

Chính vì những thành kiến vì danh mà con người đã bị lệ thuộc hoàn toàn cho danh. Danh đã lôi cuốn con người vào mọi cuộc tranh chấp từ nhỏ đến lớn, từ một người đến cả dân tộc, cả nhơn loại.

Đức Lão Tử đã minh định vấn đề “Danh” rằng: “Danh khả danh phi thường danh”.

Tạm giải: Cái danh mà người đời đã gọi vốn không phải là danh thiệt và lâu dài: Hay mọi sự vật đã có tên gọi, tên gọi ấy vốn không phải là thiệt và lâu dài của nó.

Cũng vấn đề danh ấy. Đức Khổng Tử đã cho vào đầu học thuyết của Người là “Chính Danh”.

Trước hết phải định lại cho chính danh của mọi sự mọi vật, rồi mới nghĩ đến việc phải nói hay làm.

Như vậy, ta có thể nhận định một cách rõ ràng.

Mọi danh từ, mọi danh phận đã có, đều là tạm theo sự tưởng tượng của con người mà đặt ra. Nhứt là những danh từ chỉ về những trừu tượng.

Như danh từ chỉ về Trời, thì tuỳ phương diện mà con người tưởng tượng tôn xưng. Khi nghĩ đến sự chủ tể cả muôn loài vạn vật thì người Trung Hoa gọi là đức Thượng Đế, người Tây phương gọi là Thiên Chúa, Thượng Đế là chỉ vì Vua trên hết, Thiên Chúa là chỉ vì Chúa tể trên trời.

Khi tưởng tượng về sự tạo sanh muôn loài vũ trụ thì gọi là đấng Tạo hoá, đấng Hoá công, đấng Cha Trời. Khi tưởng tượng về sự làm chủ trên hết mọi linh hồn thì gọi là đấng Tối linh, là Thần chủ … Khi tưởng tượng về sự công bằng cao tột thì tôn xưng là đấng Chí công.

Vậy tất cả danh hiệu trên đều là danh hiệu tôn xưng tuỳ theo sự tưởng tượng của con người, có danh hiệu nào là thiệt đâu.

Do đó, mà ngày nay cần dùng một danh hiệu là Cao Đài, đức Thượng Đế phải “tá danh” là Cao Đài. Chữ “tá” ấy là một triết lý nhắc nhở cho ta nhớ: Tất cả tên gọi mà loại người dùng đều là tạm đặt. Tất cả danh hiệu của các đáng đều là danh hiệu tôn xưng. Nghĩa là nói thế nào để hiểu được là đủ, chớ không phải là tiếng gọi tôn xưng khác nhau mà cho là khác.

Một điều rất tai hại là: có người chỉ tin danh hiệu đức Thượng Đế mà không chịu tin tưởng danh hiệu Thiên Chúa, hoặc trái lại cũng thế.

          Cũng như người Việt gọi là linh hồn, thì Gia tô giáo gọi là Thánh linh, Khổng giáo gọi là Thiên tính, Phật giáo gọi là Phật tính, chắc ai cũng hiểu vốn là một, nhưng sự tin nhận rằng linh hồn chúng sinh đều vốn một gốc, một khối mà phân ra, thì có người cũng không đồng ý như thế.

          Lời phán của đức Thích Ca: “Nhứt thiết chúng sinh giai hữu Phật tính” nghĩa là: Mỗi mỗi loài sinh vật đều có Phật tính có khác nào đức Gia Tô giáo chủ cho Thánh linh của con người cùng một thể, nên đều bình đẳng trước mặt đức Chúa cha. Hay Khổng giáo cho Thiên tính là cái gốc hoàn toàn nhứt, là đồng nhứt tính trong toàn thể con người.

          Ba ý ấy cho ta hiểu rằng: mọi người sanh ra đều vốn có một gốc về bản chất thiêng liêng là linh hồn. Dù gọi là Phật tính, Thiên tính, Thánh linh phải chăng đó là sự lãnh hội siêu việt của các Đấng vốn đồng một lý duy chỉ khác nhau về tên đặt mà thôi.

          Do các lý lẽ trên, để tránh cho nhân loại vấn đề danh từ có thể khó tin nhận được chân lý có một, nên Thầy mới dùng chữ tá danh.

          Vậy Cao Đài là một danh hiệu mới, hoàn toàn chưa mang màu sắc dân tộc nào trong đó, để nói lên cái ý nghĩa tối cao trong tư tưởng con người.

          Dù loài người tôn xưng Đấng ấy là Thiên Chúa, là Phật, là Thượng Đế, là Trời, là Tạo hoá … Đấng ấy chỉ có một. Đó là đấng Tối cao của nhân loại.

          Ngày nay chúng ta được phép tin tưởng đấng Tối cao vốn có của toàn thể nhân loại với danh hiệu mượn tạm là: Cao Đài.

          Vì các lẽ trên, để tránh cho nhân loại có sự tin tưởng làm chia cách nhau bởi các danh hiệu tôn xưng từ trước, nên đức Cha Trời phải mượn danh hiệu Cao Đài để hình dung sự tối cao không màu sắc của nhân loại, để lập đạo với mục đích làm cho nhân loại chịu tín nhận mình đều do một gốc mà sinh ra để yêu thương nhau, để lấp bằng những hầm hố chia cách tàn hại lẫn nhau.

III. Danh hiệu Cao Đài có cần thiết cho nhân loại chăng?

Như trên đã nói với một lý tưởng cao tột của nhân loại để hướng về sự Thiêng liêng tối cao trong tư tưởng con người, mà vì không gian và thời gian đã làm cho con người khó gặp nhau, tin nhận nhau, làm cho giảm bớt các hiệu lực cứu đời của Đấng giáo chủ từ xưa.

Ngày nay, tư tưởng loài người đã bị vật lực lôi cuốn, xua đẩy đến cảnh xâu xé tương tàn. Phải chăng lòng tin nhau đã mất, lòng tin cái lẽ phải nơi đấng Tối cao cũng bị mất lần. Chính các tôn giáo cũng vì ảnh hưởng hiện tại cũng không chịu tin nhận nhau trên một vài khía cạnh chân lý vốn là đồng nhứt.

Thử hỏi: mọi người vì lợi quyền mà không tin nhau.

Tôn giáo vì ảnh hưởng tinh thần, cũng không tạo nên lòng tin duy nhất cho nhân sinh, thì lý tưởng của con người còn biết dựa vào đâu trong khi ảnh hưởng cuộc sống vật chất càng chi phối mảnh đời sống.

Một bên thì lòng tin mất đi, một bên thì vật lực lôi cuốn. Con người tự nhiên phải bước lần vào bể thẳm của phiêu lưu, sa đoạ và tự diệt.

Đấng Cha lành của nhân loại vì mục đích cứu thế gian một lần cuối cùng trong buổi hạ nguơn hầu mãn này, nên chính mình giáng cơ giáo đạo. Muốn phục hồi lòng tin lại cho nhơn sanh, nên mới mượn danh hiệu “Cao Đài” để chỉ về đấng Tối cao, mà nhân loại bất cứ địa phương nào mà cũng tôn xưng với danh hiệu khác nhau, đều có thể hiểu được, tin nhận được. Vì tư tưởng tối cao của con người, dù ở địa phương nào, dù đời nào cũng vốn có một, nên gọi chung là đấng Tối cao của cả nhân loại.

Đã gọi là đấng Tối cao, tự nhiên ta thấy mọi niềm chia cách sâu xa từ trước tan biến lần, để rồi tin nhận đấng Cha Chung của nhơn loại, nên nhơn loại vốn là anh em ruột với nhau về phần linh hồn.

Sự thương yêu tự khắc sẽ làm cho loài người cảm thấy một chân trời tự cứu chớm nở trong lòng mình.

Kết luận: Cao Đài là sự tối cao trong tư tưởng loài người vốn không có màu sắc. Sự tối cao đó chân lý của con người vốn là sự sống sự tiến bộ và sự sinh tồn quyền năng thiêng liêng ấy gọi là đấng Tối cao.

Đấng Tối cao tức là đức Thượng Đế, đức Chúa Trời giáng cơ giáo đạo cứu độ chúng sanh buổi hạ ngươn này, để tránh cho nhân loại sự khó tin nhận nên tá danh là “Cao Đài”.

Con người hễ tin nhận được các lẽ trên, tự nhiên sự khôn ngoan sẽ giúp cho một khối đức tin sáng tỏ đủ sức phá tan những ảnh hưởng đen tối của cuộc đời tội lỗi, để tự cứu lấy mình thoát hoạ diệt vong.

Cao Đài là lý tưởng tối cao trong tư tưởng nhân loại, không còn chia cách bởi màu sắc tôn giáo, màu sắc dân tộc gì cả. Vì đấng Tối cao Chúa Trời đã phán dạy:

“Nhiên Đăng Cổ Phật thị ngã, Thích Ca Như Lai thị ngã, Gia Tô giáo chủ thị ngã kiêm viết Cao Đài” và câu: “Thầy là các con, các con là Thầy”

Vậy người đạo Cao Đài trước nhứt đã thành kính tin nhận các đấng Giáo chủ là hiện thân đức Cao Đài. Hay đức Cao Đài ngày xưa khi cứu độ các dân tộc vốn đã mượn thể xác hạ phàm là các đấng Giáo chủ.

Cao Đài là danh hiệu giải thoát mọi thành kiến chia rẽ của con người.

THANH ĐẠO

(Bài đã đăng trong Tạp chí Nhân Sinh tháng 1 năm 1964)

 

ĐẠO CAO ĐÀI TÔN GIÁO ĐẠI ĐỒNG

Quốc Luyện

          Một trong các đặc tính căn bản của Đạo Cao Đài là tính cách tôn giáo đại đồng. Theo giáo thuyết “vạn giáo nhất lý”, thì hết thảy tôn giáo đều đại cương có phần giống nhau, chỉ sai khác về chi tiết, nghĩa là đại đồng mà tiểu dị.

          Nhưng tôn giáo đại đồng cũng còn có nghĩa là tôn giáo chung cho hết thảy loài người, dù thuộc màu da sắc tóc hay tín ngưỡng riêng biệt nào, vì đạo Cao Đài là tôn giáo cộng đồng của hết thảy mọi người có tín ngưỡng, tôn trọng thần linh.

          Đạo Cao Đài còn là tôn giáo đại đồng vì mục đích mưu cầu hạnh phúc giải thoát tập thể toàn nhân loại, vì mục đích thực hiện sự dung hòa hiệp nhứt tối cao toàn thể trào lưu tư tưởng tinh thần của nhân loại để đạt chơn lý tuyệt đích và hạnh phúc sinh tồn vô biên.

          Trong ba ý nghĩa kể trên, quan trọng nhất là ý nghĩa tôn giáo đại đồng mà tiểu dị, hai ý nghĩa sau coi như là diễn kết tất nhiên.

          I. TIỂU DỊ – Trên thế gian này đã không thể có hai vật hoàn toàn giống nhau thì về tôn giáo cũng vậy, nếu nói sai khác thì tôn giáo nào cũng không giống tôn giáo nào cả. Thực vậy, còn lẫn lộn làm sao được nhà sư đạo Phật với vị linh mục đạo Thiên Chúa, cách thức lễ bái đạo Hồi với các lễ bái đạo Tin Lành, nhà thờ đạo Bà la môn với Văn miếu Đức Khổng Tử được.

          Hình thức các tôn giáo mỗi mỗi sai khác, cách thức sinh hoạt tu hành, cùng tuyệt nhiên không giống nhau. Không nói chung các tôn giáo mà ngay trong nội bộ mỗi tôn giáo, các chi các phái cũng không hề giống nhau, đạo Cơ Đốc chính truyền và đạo Tin Lành còn khác nhau hơn là Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáo.

          Cứ quan điểm này, càng đi sâu vào giáo lý mỗi tôn giáo, sự sai khác càng như chồng chất thêm lên.

          Đạo Gia Tô thờ Đấng Chúa Trời có 3 ngôi, đạo Hồi lại thờ Đức Chúa Trời độc tôn thuần nhất. Đạo Gia Tô, đạo Do Thái, đạo Hồi và đạo Nho thờ một đấng tối linh duy nhất, còn Ấn độ giáo thờ chung 3 vị tối linh Brahma, Civa và Vishnou. Có đạo thờ Đấng Tối cao có nhơn tướng (Đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Do Thái), có đạo thờ đấng tối linh như một nguyên lý siêu hình (đạo Phật, đạo Lão). Về vũ trụ vạn vật, đạo Phật cũng như Đạo Hồi cho rằng vũ trụ pháp giới là vô thủy vô chung, thành trụ hoại không, vĩnh tục bất đoạn bất tức, trái lại Đạo Thiên Chúa cho rằng vũ trụ sinh ra do ý chí của Đức Chúa Trời và cõi đời này sinh ra chỉ có một lần không hai, lần này đều tận thế là hết.

          Về nhân sinh, đối với Đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi, người là vật sáng tạo tuyệt đích của tạo hóa nên cây cỏ thú cầm đều để phụng dưỡng sinh hoạt loài người. Trên trái đất độc nhất vô nhị trung tâm của vũ trụ này, người là quan trọng bực nhất, tất cả sự biến dịch trong trời đất này đều do ở hành vi thiện ác của người chi phối cả. Lịch sử loài người sẽ chấm dứt với sự tận thế nên từ nay đến đó, mọi người cần nắm lấy cơ hội độc nhất hy hữu hiện nay để tin tưởng hầu giải thoát linh hồn vĩnh viễn.

          Trái lại, đạo Phật, đạo Bà la môn và đạo Lão cho rằng loài người sinh ra từ vô thủy kiếp lai, và nếu không tu để siêu rỗi linh hồn thì còn luân hồi bất tận. Vạn vật cây cỏ thú cầm cũng có phần thiêng liêng tiến hóa nên người và trái lại người hay đúng hơn linh hồn cũng có thể trở lại đầu thai làm thú cầm cây cỏ. Linh hồn người chết vì vậy không phải nhất định có hình tướng người như Đạo Thiên Chúa hay Đạo Hồi tin tưởng mà chỉ là một khối vô hình vi diệu do luật cảm ứng hay nghiệp quả tạo nên.

          Xét như vậy thì các tôn giáo rõ ràng có sai khác nhau, song thử hỏi do đâu có những sự sai khác ấy?

          Đạo Cao Đài giải thích: Ngày xưa thiếu sự giao thông đi lại, loài người ở cách biệt lẻ loi, các vị giáo chủ hạ phàm phải tùy phong tục tính tình dân chúng địa phương mà tùy cơ thuyết pháp lập đạo.

          Vậy trước hết, phong tục tính tình của mỗi dân tộc đã làm cho tôn giáo có màu sắc riêng biệt. Các tôn giáo ra đời không phải xuất hiện từ không trung xuống, mà phải căn cứ ở hoàn cảnh xã hội, điều kiện nhân tâm địa phương vị giáo chủ mà phôi thai phát triển. .

          Trước khi đức Jesus ra đời chứng minh sự hằng có của Đức Chúa Trời thì 2.000 năm trước có ông Abraham và hơn 1.000 năm trước ông Moise đều đã dạy sự tin tưởng nơi Đức Chúa Trời rồi, “đức Chúa Trời của Abraham, Isaac và Jacob”. Cùng phát sinh trên giải đất Cận Đông, đạo Cơ Đốc cũng như đạo Hồi đều mang dấu vết bao sự tích, bao truyền thống vì bao tục lệ của Do Thái. Quan niệm Đức chúa Trời nhất đán từ hư vô tạo nên trời đất chính đã có sẵn từ trước khi Đức Jesus hay đức Mahomet truyền dạy vậy. Quỉ Satan lúc đầu cũng là một thiên thần chuyên xem xét việc thiện ác của người dưới quyền Chúa Trời, song do ảnh hưởng thuyết thiện ác lưỡng lập của đạo Ba Tư mà trong Tân Ước Satan trở nên chúa quỉ nghịch với Chúa Trời. Đạo Hồi cũng chịu ảnh hưởng của đạo Ba Tư cổ mà nói về sự chết ô uế đặt tục lệ tháng chay Ramadan v v... và chịu ảnh hưởng Đạo Thiên Chúa về thuyết Chúa Trời độc nhất, thuyết ngày tận thế phán đoán đại đồng, thuyết người chết sẽ sống lại để chịu sự thưởng phạt v.v...

          Cũng như Đạo Bà la môn và Đạo Phật rất có nhiều điểm tương tự vì cùng phát sinh ở Ấn Độ. Đạo Bà la môn xuất hiện tối cổ, trên vài ngàn năm trước Tây lịch. Thuyết luân hồi nghiệp quả đã có trong Đạo Bà la môn từ lâu, trước khi Phật giáo ra đời. Cũng từ lâu, trước khi Phật Thích Ca nói đến bản ngã thanh tịnh chân như của pháp giới như nguồn gốc thiêng liêng vạn vật thì đạo Bà la môn đã nói đến đại hồn vũ trụ rồi. Rất nhiều cách thức tu hành theo đạo Phật vốn đã có từ trước trong đạo Bà la môn rồi.

          Đạo Khổng cũng như đạo Lão cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng phong tục cổ của Trung Hoa từ trên 3.000 năm trước.

          Thuyết Thiên (Thượng Đế) là chúa tể sinh ra thế gian, thuyết điều hòa hành động của người cho hợp lẽ trời trong Khổng giáo cũng như thuyết Đạo là nguồn gốc tối cao mọi sự vật, thuyết nhơn thân và vũ trụ đồng nhất trong Lão giáo đều vốn có sẵn từ đời Phục Hy về trước.

          Cụ thể hơn, kinh sách Phật thường nói đến sông Hằng hà và cây bồ đề, kinh sách đạo Gia Tô thường nói đến các xứ ở Cận Đông, sách Nho thường nói việc nước Trung Hoa, kinh đạo Hồi bằng tiếng Ả Rập, kinh đạo Phật bằng tiếng Ấn Độ, kinh Đạo Gia Tô bằng tiếng Hebreu hay bằng tiếng La Tinh chứng tỏ rõ rệt mỗi tôn giáo chịu ảnh hưởng điều kiện địa phương vậy.

          Các tôn giáo cũng tùy đặc tính mỗi dân tộc mà sai khác. Bản tính huyền bí và nhân bản của người Do Thái đã khiến đạo Gia tô có đặc tính huyền bí thần quyền. Bản tính triết lý của người Ấn Độ đã làm cho đạo Bà la môn cũng như đạo Phật không quan niệm một đấng Chúa Trời có hình tướng người. Do bản tính thực tiễn của người Trung Hoa, Đạo Khổng cũng như Đạo Lão không có tính cách huyền bí như các tôn giáo khác.

          Lại còn một lý do sai khác giữa các tôn giáo nữa, ấy là trình độ tiến hóa của mỗi dân tộc mà các đấng giáo chủ đến dạy đạo.

          Trong kinh thánh đạo Thiên chúa thường dùng hình ảnh người chăn chiên và bầy con chiên để hình dung mối liên lạc giữa Đức Chúa Trời và con dân ngài, chứng tỏ rằng tôn giáo này đã phát sanh ở một bộ lạc còn sống đời du mục (theo Léonard Wolley). Đạo Khổng cũng như Đạo Lão thấm nhuần tư tưởng điều hòa thời tiết, vũ trụ vận hành, vì người Trung Hoa lúc ấy đã từ lâu tiến đến trình độ canh tác nông nghiệp. Ấn Độ giáo thờ bò cái là vết tích của thời bộ lạc thờ các con vật thánh (Totem) vậy.

          Những nguyên nhân phong tục, tánh tình, trình độ tiến hóa từng địa phương đã kể trên đã giải thích sự sai khác giữa các tôn giáo. Nếu sự sai dị giữa người này với người kia không phải tuyệt đối, trái lại mọi người dù ở đâu, thuộc trình độ nào, giai cấp nào cũng đều có một căn bản nhân loại như nhau, thì ta cũng có thể suy luận rằng sự sai khác giữa các tôn giáo như đã kể trên không có tính cách tuyệt đối mà các tôn giáo vẫn có một căn bản giống nhau. Những khuynh hướng giống nhau rộng lớn sâu xa hơn các điểm sai khác.

          II. Tôn giáo đại đồng – Các đấng giáo chủ xuống trần lập đạo phải tùy hoàn cảnh trình độ căn cơ của dân chúng mỗi nơi mà tùy cơ lập giáo. Hình tướng, pháp môn và giáo nghĩa vì vậy mà sai khác, nhưng dụng ý cứu cánh cùng yếu lý vẫn đại cương tương đồng.

          Ở căn bản, tất cả các tôn giáo đều cùng một quan niệm rằng cõi đời không phải là một sự hỗn độn vô nghĩa, trái lại thế gian vũ trụ là một vật toàn thể có điều hòa trật tự, trong đó mọi vật, muôn loài đều có liên quan mật thiết với nhau và đều cùng chịu một sự chi phối chung. Các tôn giáo đều nhìn nhận rằng trong vạn pháp hiện hữu, có một bản thể siêu nhiên trí phàm không thấu triệt được, song vẫn có thể truy đạt được bằng đường lối đặc biệt. Vì vậy, từ ngàn xưa các tôn giáo đều tìm cách giải đáp những bí hiểm lớn lao đã khiến muôn vàn triết nhân lao tâm tiêu tứ tìm hiểu. Các tôn giáo đều cố gắng đem lại câu trả lời cho các vấn đề sau này:

          Nguồn gốc và cơ cấu của vũ trụ như thế nào? Tại sao có loài người và con người chết sẽ ra sao? Thực thể của lương tâm và đạo đức là thế nào? Cái gì định đoạt vận mạng con người và nhân loại?

          Nhưng các tôn giáo không chỉ đem lại sự giải thích vũ trụ và cho biết tại sao lại có như thế, sự có hiện thời như thế nào và nguyên lý của mọi sự vật ở đâu mà ra, các tôn giáo còn có những mục đích thực tế, tôn giáo muốn đem lại sự thỏa mãn cho ham muốn và đòi hỏi của lòng người, tôn giáo muốn đem lại sự giải phóng cởi mở cho người bằng cách đem người ra khỏi sông mê bể khổ.

          Con người quá yếu hèn đối với vũ trụ vạn vật, Sợ hãi các oai lực thiên nhiên và không hiểu thấu các oai lực ấy, loài người sinh ra cầu khẩn tin tưởng và tự hỏi mình có làm điều gì trái thiên lý, nghịch thiên điều chăng? Cũng nhờ vạn vật để sống, loài người thành kính và tri ân đối với vũ trụ, tìm cách điều hòa sự sống của mình với thiên lý trời đất. Tôn giáo không chỉ phát sinh vì bản tính loài người muốn thuận theo thiên nhiên để sống một cuộc đời tốt đẹp hạnh phúc hơn, tôn giáo còn đem lại sự thỏa mãn cho nhu cầu tâm hồn loài người, vì người ta ai cũng cảm thấy tha thiết cần thờ kính một cái gì mà vì một lý do nào, được coi như vượt trên thực tại cõi đời, một cái gì như đáng lo sợ như quá cao siêu vĩ đại. Các vị giáo chủ tài đức vô biên đã vượt cõi sống tầm thường mà sống một cuộc đời như bao la huyền diệu khác xa cõi sống thế gian nên càng cho loài người thấy rõ có một sự phân biệt giữa hai thế giới siêu hình và hữu hình, lý tưởng và thực tại. Tất cả các tôn giáo đều cùng để thoả mãn cái mà Goethe gọi là “năng khiếu tôn thờ” (Veine d'adoration) của mọi người.

          Một điểm đặc sắc tương đồng giữa các giáo lý nữa là các tôn giáo đều khiến con người đem tầm con mắt ngó ra thời gian ngắn ngủi của kiếp người. Nhờ tôn giáo, con người xem tuồng thiên diễn man mác vô biên để nhận thấy đời người thật quá mỏng manh ngắn ngủi. Nhìn xa thấy rộng, nhìn quá khứ bao kiếp qua và tương lai bao kiếp đến, con người mới dễ nhận định hướng đi và đường đi. Đạo Hồi và Đạo Gia Tô tin rằng thế gian vũ trụ sinh ra theo một kế hoạch thiêng liêng, và theo kế hoạch ấy, thế giới sẽ đi đến ngày tận cùng, không sớm thì muộn. Các tôn giáo đông phương thì dạy rằng vũ trụ có những qui luật điều hòa mà cá nhân phải tìm cách hòa đồng.

          Nhưng con người không chỉ cần biết rằng người là một phần tử bất biến của vũ trụ pháp giới. Con người còn tin rằng chết không phải là hết, người ta sau khi chết vẫn còn có linh hồn sống mãi. Người ta tin ở linh hồn bất diệt và cũng tin ở sự thưởng thiện phạt ác ở thiên đường địa ngục hay trong kiếp đầu thai khác.

          Các Tôn giáo đều phát hiện với những hiện hình (miracle) lạ lùng càng chứng tỏ bên trong và bên trên thế giới hữu hình còn có những thần lực siêu hình thiên biến vạn hóa nhiệm mầu vô biên. Những phép lạ chữa bệnh, khiến người chết sống lại, người mù được sáng mắt, những tiên tri tiên ngôn, v..v. cho ta thấy tôn giáo là một phương pháp để đạt thấu nhiệm mầu. Ngoài những phép lạ bên ngoài ấy còn có những phép lạ bên trong chỉ riêng các bậc thánh thiện mới thấu đạt, nhờ đó mà Phật đã hoát nhiên đại ngộ, trông thấy biết suốt tam giới và muôn vạn kiếp về trước cũng như về sau, nhờ thần thông tuệ nhãn mà nhận định rõ chân tướng của vũ trụ và bản thể pháp giới, tức là đạt được chân lý siêu nhiên.

          Các tôn giáo lại còn có một mối tương đồng quan hệ nữa, ấy là yếu tố đạo đức, căn bản của các tôn giáo thượng đẳng, nên Kant có nói rằng: “Quan hệ nhứt là đạo đức. Đó là yếu tố thiêng liêng bất khả xâm phạm cần phải bảo vệ, và đó cũng là lý do mục đích của tất cả mọi công phu truy tầm triết lý của chúng ta cả đến quan niệm tôn giáo về Thượng Đế và thế giới siêu hình cũng trở thành vô bổ nếu không liên hệ đến đạo đức”.

          Tất cả các tôn giáo đều có nguồn gốc chung nơi lương tâm đạo đức. Đạo Bà la môn, đạo Phật, đạo Khổng, Đạo Lão, Đạo Thiên Chúa và Đạo Hồi tuy khác nhau nhiều điểm về giáo nghĩa và có những cách thức lễ bái sai khác, song đều công nhận rằng vọng ngữ, gian dối, trộm cắp, hoang dâm và sát nhân đều là tội lỗi cả và người thì cần phải ăn ở theo đạo lý cần lấy giáo lý, qui điều làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi hành vi thiện ác ở đời.

          Tuy trình độ đạo đức có khác nhau, như đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi dạy phải yêu thương kẻ thù địch, trái lại nhiều Tôn giáo chỉ dạy nên lấy ân báo ân, lấy oán báo oán, song các Tôn giáo đều cùng dạy người giữ lấy tâm hồn thanh cao, tính tình thuần khiết.

          Những nhận định trên cho ta thấy rõ rằng các Tôn giáo hình như ở trong một khuôn mẫu chung giống nhau, trong mỗi khuôn mẫu, mỗi tôn giáo có hình thức sắc thái riêng và có những điều đặc biệt phân cách với các phạm trù sáng tạo khác của văn hóa nhân sinh. Nhiều yếu tố có tính cách công cộng cho nhiều tôn giáo bởi vì mặc dù những sai khác do hoàn cảnh, thời gian hoặc đặc tính tạo ra, các điều kiện phát hiện và phát triển tôn giáo cùng nhu cầu ước mong của tín đồ, ở đâu và thời nào, cũng không khác nhau mấy. Sự tương đồng này càng tỏ rõ nếu ta phân tích kỹ từng yếu tố riêng biệt. Các bằng chứng về sự có đức chúa Trời của các triết gia Ấn Độ nhận định thật giống với các bằng chứng do các nhà thần linh học Cơ Đốc hay Đạo Hồi nhìn nhận.

          Đối với môn đồ Bà la môn hay Cơ Đốc hay Đạo Hồi, vấn đề tìm biết, người có thể tự lực giải thoát hay cần nhờ pháp lực ân trạch thiêng liêng giúp sức có một giá trị quan hệ như nhau. Cũng như vấn đề tìm hiểu, người có thể ảnh hưởng phần nào đến sự giải thoát cứu độ cho mình không, hay là hoàn toàn do Thiên ý định, mà đức tin nơi Đấng Thiêng Liêng chỉ là ân huệ của Thiêng Liêng ban cho.

          Về thần bí, cũng có nhiều sự giống nhau giữa các tôn giáo các dân tộc, ví dụ lễ tắm thánh, lễ nhập môn, phép nhập định và nhiều nghi lễ khác đối với người chết. Các lễ nghi long trọng của Đạo Gia Tô cũng hầu như tương đương với các lễ nghi của Phật giáo Đại Thừa.

          Không phải rằng mỗi hiện tượng riêng của mỗi tôn giáo tương đương với hiện tượng có ở một tôn giáo khác trong một giai đoạn tiến triển nào đó, song đại cương thì đường lối tu tiến về toàn thể cũng như có một, chỉ khác nhau ở điều có hiện tượng phát hiện ở đạo này mà không thấy phát hiện ở đạo kia, tuy rằng đạo nào cũng hàm súc đủ khả năng phát hiện hiện tượng ấy. Theo các nhận xét khắp các phương diện tôn giáo như trên, sự đồng nhất giữa các tôn giáo thật là hiển nhiên cái sự sai khác đã trở nên quá ít và nhỏ nhặt vậy.

          III. Cộng đồng tín ngưỡng – Tính cách đại đồng giữa các tôn giáo kể ra cũng không phải mới lạ. Chính các bậc giáo chủ từ xưa đã có khi biết nhau mà vẫn không hề công kích nhau, trái lại cũng nhìn nhận cùng theo đuổi một cứu cánh như nhau. Trong thánh kinh Coran, đức Mahomet coi đức chúa Jesus như bậc thánh đã đắc đạo và mở đường giải thoát nhân loại (Koran 6, 85). Hơn nữa, đến Mahomet còn coi người đạo Thiên Chúa như người đồng đạo thân thiết (Koran 5, 85). Đức Khổng Tử cùng một tinh thần dung hòa khi nói rằng: “Ta nghe bên Tây phương có một vị thánh nhân ra đời (ám chỉ đức Phật)”. Sau một cuộc hội kiến với đức Lão Tử; đức Khổng Tử nói rằng: “ta biết rằng chim có thể bay, cá có thể lội, thú có thể chạy, song ta không thể biết con rồng bay lên trời ra sao. Ta đã gặp đức Lão Tử. Đức Lão Tử thật như con rồng đó vậy”. Coi vậy thì ngay bản tính các bậc giáo chủ vốn có nghịch nhau đâu.

          Trong Diệu pháp Liên hoa kinh (chương 24) Đức Phật có nói rằng đức Quan Âm Bồ Tát thường hiện thân làm Thần, Phật, Thánh, Tiên để cứu độ giải thoát chúng sinh. Trong kinh “Vimalakirinirdesba” có nói: “Các bậc bồ tát thường hiện thân dưới nhiều hình tướng và thuyết pháp bằng nhiều thứ tiếng. Các bồ tát có thể làm mặt trăng, trời, làm nước, lửa, đá, gió, làm thần Indra, thần Brahma hay làm Đức Chúa để cứu độ chúng sinh. Vì rằng các bậc bồ tát đều cùng mục đích giác ngộ chánh đạo cho chúng sinh, dù hình thức tín ngưỡng có khác nhau để khế hiệp căn cơ chúng sinh”.

          Chính những bậc thiện trí trong các Tôn giáo cũng đều nhìn nhận lẽ đạo đồng nhứt và hô hào sự hiểu biết tương thân giữa các tôn giáo. Như ông Ibnal Arabi đạo Hồi có viết trong sách “Tarjuman-al Sshvag” rằng: “Tâm hồn tôi có thể biến đổi nhiều hình tướng, là đồng cỏ của dê bò, là nhà tu của giáo sĩ, là đền thờ nhiều hình tượng, là đền thánh Kaba. Tôi chỉ có một đạo là bác ái đại đồng, đó là tín ngưỡng của tôi”. Triết gia Radhakhrishnan cũng nói rằng: “Khi đời trụy lạc vào đường vật chất thì xuất hiện hoặc một vị thánh Krishna, hoặc một vị Phật, hoặc chúa Jesus để cứu đời. Trong các bực ấy đã đã phá ác nghiệp dục vọng vật chất, ta đều thấy sự phát biểu chân lý bác ái chí công của Thượng đế chí linh. Các bậc ấy chỉ cho ta con đường chính, con đường ngay. Nếu người đạo Thiên chúa chịu nhìn nhận rằng người ngoại đạo cũng có thể siêu thăng về với Chúa Trời bằng đường lối tôn giáo khác thời người ngoại đạo sẵn sàng nhìn nhận đạo Thiên chúa là tôn quí ngay”.  Chính Thánh Gandhi cũng nói rằng: “Tôi cũng là đồ đệ của đức Phật, đức Jesus, đức Mahonet, vì các vị ấy đều cùng cầu đạo chơn lý, bác ái, công bằng cả”.

          Ấy thế mà xưa nay các tôn giáo nào chịu cùng nhau tương hiệp để cứu độ toàn nhơn  sanh, trái lại thường hay hiềm khích chia rẽ nhau. Đạo nào cũng tự cho đạo mình là phải, chỉ có đạo mình mới cứu rỗi nhơn loại đạo nào cũng cho kinh sách mình là thiêng liêng, kinh sách đạo khác vô giá trị, thành ra giữa tôn giáo, đi xây dựng lên biết bao thành kiến chia rẽ, làm cho nhơn sanh thêm hoang mang điên đảo, thêm thù hận oán ghét nhau, có khi vì tín ngưỡng mà đến chém giết nhau, thật là trái tôn chỉ các đấng giáo chủ. Nếu hiểu rằng tôn giáo chỉ là một hình thức, một cách quan niệm về siêu hình, thích nghi theo nhơn sanh trong một khu vực nào và trong một thời đại nào nhất định thì tiêu tan được biết bao thành kiến cố chấp chia rẽ phân biệt. Giáo lý mỗi tôn giáo hoàn toàn có giá trị như một cổ xe (theo nhà Phật gọi là thặng) hay một con đường. Giáo lý là sự giải thích về huyền bí siêu nhiên và sự trình bày các kinh nghiệm giác ngộ nội tâm, nhờ đó mà tâm ấn bí truyền được truyền thụ phần nào, nên giáo lý là sự trình bày về chân lý siêu hình dưới một hình thức tường thuật hay giải thích bóng bảy phù hợp với trình độ trung bình mọi người. Giáo lý chỉ là phương tiện để dạy đạo và ngộ đạo.

          Người Trung Hoa có thể vừa thờ đức Lão Tử, vừa tin đạo Phật, vừa lễ bái theo đạo Nho, người Ấn Độ có thể vừa thờ thần Brahma bay Civa hay Phật Thích Ca, mà không từ chối bỏ đạo riêng của mình chứng tỏ đức tin rằng các đạo ấy đều chứa đựng một phần chân lý và đem kết nạp dung hợp lại hết thảy là những từng thứ của Chánh đạo Chánh giác vậy.

          Trong kinh Udana có thuật chuyện rằng: Ở thành Sabelin có một ông vua phán bảo quan hầu rằng hãy tụ họp tất cả các người vốn đui mù từ thuở sinh để lại một nơi trong thành. Xong rồi, vua bảo đem một con voi lại, rồi bảo các người mù xúm lại rờ xem và nói nghe hình thù voi ra sao. Có người sờ nhằm đầu voi, nói rằng voi giống như cái bình, người sờ tai nói rằng voi giống như cái quạt, người sờ ngực nói rằng voi giống như cái thúng, người sờ chân nói rằng voi giống như cây cột, người sờ ngà nói rằng voi giống như khúc gỗ nhọn, người sờ đuôi nói rằng voi giống như cái chổi. Thế rồi bọn mù cãi nhau, người nào cũng tự cho rằng voi đúng theo hình thù mình đã sờ biết, đâm ra đánh nhau túi bụi.

          Các tôn giáo kích bác nhau chia rẽ nhau cũng không khác như thế.

          Hơn nữa, cốt yếu của tôn giáo là giải thoát bản ngã thấp hèn, để vượt lên thượng tầng thanh cao siêu nhiên đạo đức vô biên. Đối với cứu cánh này, giáo nghĩa các tôn giáo chỉ là phương tiện để đặt các trình độ tu chứng vào khuôn khổ một kế hoạch cầu đạt chân lý tuyệt đối, tùy theo trình độ nhơn sanh và với phương tiện sẵn có ở thế gian. Giáo nghĩa chỉ là hình bóng, cái mốc để ta có thể nhờ đó nhận rõ đường lối đi đến thành đạo chơn lý, nên chỉ có giá trị tùy thời cho đến khi nào không còn phù hợp với trào lưu tư tưởng của thời đại. Khi quan niệm, tư tưởng một thời đại biến đổi, thì hình thức tôn giáo cũng cần biến đổi, tuy nội dung có thể bất dịch.

          Chính vì vậy mà ngày nay Đức Cao Đài sáng lập nền tôn giáo mới để qui hiệp các tôn giáo thành một cộng đồng tín ngưỡng. Đức Cao Đài Thượng Đế là đức Cha chung của các vị Giáo chủ cũng như của toàn nhân loại, Đạo Cao Đài thờ tất cả các vị Giáo chủ là những bậc đàn anh đã lãnh sứ mệnh cứu độ thế gian. Đạo Cao Đài là tôn giáo chung của các tôn giáo. Có cộng đồng tín ngưỡng như vậy mới mong cầu đạt chơn lý toàn diện, nhờ đó mới tận độ toàn nhơn sanh, xây dựng hạnh phú
c cực lạc đại đồng thế gian.

          Kết luận - Thành kiến cố chấp chia rẽ của các tôn giáo từ xưa đến nay đã trở ngại sự giải thoát toàn thể nhân sinh không ít, nhất là trước ác lực đả phá tôn giáo thần thánh càng ngày càng bành trướng, sự dung hiệp các tôn giáo tỏ ra rất cần thiết. Với tính cách đại đồng tín ngưỡng, Đạo Cao Đài mong mỏi các tôn giáo sớm nhìn nhau cùng một cứu cánh, một lập trường để chung tâm hiệp sức thực hiện sự cứu rỗi cho toàn nhân loại, cùng nắm tay tiến đến đại đồng chí thiện hạnh phúc thái hoà vô biên.

Quốc Luyện

Từ Lâm tự (Thiền Lâm tự), Gò Kén, Tây Ninh - nơi diễn ra Lễ Khai Đạo Cao Đài 1926.

(Bài đăng trong tạp chí nhân sinh sô 5 - ra ngày 15.01.1955)

 

TÔN GIÁO ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU

Trần Quốc Luyện

 

          Tôn giáo là sự tin tưởng ở một thế giới vô hình, do một thần lực huyền bí cai quản có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến đời người, và là nơi mà linh hồn người ta sau khi chết sẽ đến đó. Tôn giáo định nghĩa rộng như thế, là một thông tính linh cảm chung cả loài người, nó là một bản năng đặc biệt của giống người để cảm thông với vũ trụ vạn vật và để phát huy nhân cách đến cao siêu tuyệt đích, thoát khỏi ràng buộc của đời sống vật chất tầm thường. Bất cứ thời đại nào và bất cứ chỗ nào, hễ có người là cũng có ngay khuynh hướng tin tưởng thiêng liêng huyền bí. Vì vậy, tôn giáo là một yếu tố sinh tồn và tiến hóa của loài người. Nó đã luôn tác dụng suốt lịch sử nhân loại, từ lúc khởi thủy đến ngày nay.

          I. Đệ nhất kỳ phổ độ

          Theo các nhà khảo cổ về nhân chủng học, thì sự tiến hóa từ giai đoạn thú cầm qua giai đoạn nhân loại bắt đầu cách đây một triệu năm. Phải trải qua ngót một triệu năm, qua các giai đoạn người thú như loại Pithecanthropus, Sinanthroupus, éoanthropus (giống người tối cổ nửa người, nửa thú do các nhà nhân chủng học khám phá ra) đến cách đây 50.000 năm, mới xuất hiện giống người Homosapiens, đã có nhiều tương tự với giống người hiện nay. Nhưng đến cách đây trên một vạn năm, loài người thực thọ, có đủ trí óc tư duy trừu tượng và ngôn ngữ cảm thông mới ra đời. Các giống người tối cổ kể trên đã thấy sợ sệt đối với các hiện tượng chung quanh và chưa biết phân biệt thực tại với cảnh mộng, nhưng cũng đã biết tôn thờ người chết, bằng cách chôn theo người chết các vật dụng như khí giới, chén, bát,v.v..Họ cũng đã biết tôn thờ các vật mà họ coi như linh vật (Totem) không được xúc phạm bằng tay chân hay bằng nhìn ngó. Khi đã có ngôn ngữ, sự tín ngưỡng của họ trở nên tập tục chung, họ tập hợp nhau lại để làm các phép quỉ thuật (sorcellerie) để cầu các Đấng vô hình giúp đỡ họ hay để bài trừ các tai nạn ngẫu nhiên. Tín ngưỡng lúc bấy giờ còn chịu ảnh hưởng của lòng sợ hãi, nên có tính cách tiêu cực, nghĩa là có tính cách ngăn cấm những việc có thể làm phật ý quỉ thần.

          Tín ngưỡng bộ lạc

          Khi người Homo sapiens đã tiến đến giai đoạn đầy đủ trí óc, có đầy đủ bản năng, tình cảm và lý trí thì sự tín ngưỡng thiêng liêng trở thành rõ rệt. Họ tôn thờ một ông tổ bộ lạc, họ làm các phép thuật để tránh tai nạn và để cầu may (như các lễ tế vật, để cầu mưa thuận gió hòa cho sự trồng trọt được kết quả, cầu các tai ách, bệnh tật không đến tiêu diệt bộ lạc, v.v..). Khuynh hướng tín ngưỡng ở thần lực huyền bí chứa đầy cảm giác sợ hãi, tôn kính và nhất là hy vọng. Tín ngưỡng này thuộc về ba loại:

          a/ Tin tưởng có thế giới vô hình, thế giới của quỉ thần.

          b/ Tin tưởng có một sức mạnh thiêng liêng huyền bí, sai khiến các vật hữu hình, sức mạnh này vừa là Thần lực vừa là sinh lực và ý chí vạn vật (Mana).

          c/ Tin tưởng có linh hồn người chết sống ở một thế giới khác.

          Do các loại tin tưởng này, bộ lạc bước đến giai đoạn du mục và nông nghiệp bắt đầu tôn thờ các vật có liên quan mật thiết đến sinh hoạt hằng ngày của họ. Dân du mục ngồi chăn súc vật mà ngắm các hiện tượng chung quanh như sông sâu, núi hiểm, cây to, gió bão mà sợ sệt và tin có thần nước, thần núi, thần cây và thần gió. Dân nông nghiệp thờ mặt trăng, sấm chớp. Ngắm không gian vô tận với muôn vàn tinh tú cao xa yên lặng, họ tưởng tượng nên muôn vàn quỉ thần ở nơi cao xa, cũng như chung quanh họ. Một tảng đá, một gốc cây to, một con rắn dữ, đều là qui thần cả. Đó là tín ngưỡng bái vật (animisme).

          Quỉ thần nhân hóa

          Với bản năng tự tồn và đoàn kết, dưới sự thúc đẩy của nhu cầu sinh hoạt, người bộ lạc càng ngày càng cảm thấy yếu hèn đối với sức mạnh muôn vàn thần thánh chung quanh, càng thấy cần có một sức mạnh thiêng liêng đối phó lại. Các ông Tổ bộ lạc đã chết, được tôn thờ như thần thánh, có năng lực bảo vệ bộ lạc. Trong bộ lạc đã gây nên truyền thống lễ nghi mà người còn sống và tiếp nối sau phải noi giữ. Các lễ nghi truyền thần lực huyền bí để cạnh tranh sinh tồn, mà người thiếu niên bộ lạc IPIS hoặc Nama ở các đảo Úc Châu phải noi theo, đã chứng tỏ sự tiến triển từ quan niệm bái vật thô sơ đến quan niệm quỉ thần có nhân cách riêng biệt như người. Những người tù trưởng có nhân cách siêu việt và tài trí lỗi lạc xuất hiện, khiến tín ngưỡng của bộ lạc rời hình ảnh thú vật mà hướng về những thần linh có nhân tính.

          Đồng thời, quan niệm đạo đức xuất hiện trong tín ngưỡng. Trong Bộ lạc có những tập tục và giới cấm phải cùng chung noi theo. Sự giáo huấn con cái để noi giữ các tục lệ ấy và để kềm chế thú tính bản năng đưa đến sự đào tạo con người có nhân cách. Tinh thần đoàn kết sống chung và tập truyền tôn giáo đã gieo vào lương trí bộ lạc mầm giống đạo đức, để sau này phát triển với nhân cách đầy đủ, lương tâm cá nhân có thể cảm thông trực tiếp với thần linh. Đó là sự tiến bộ lớn trên lịch sử tín ngưỡng vậy.

          Đa Thần Giáo

          Đồng thời với sự kết hợp các bộ lạc thành bang quốc, tín ngưỡng con người cũng tiến từ quan niệm quỉ thần phức tạp đến một thiểu số quỉ thần uy lực tối nhiệm mầu. Thiểu số lãnh chúa và giáo sĩ nắm quyền điều khiển và cai trị dân chúng, dưới danh nghĩa một nhiều vị thần. Dân Ai Cập, dân Ấn Độ tin có ba vị thần tối cao quản trị thế gian. Dân Ba Tỷ Luân, Ba Tư v.v.. đều tôn thờ một thiểu số thần thánh. Các đền đài thờ riêng một vị thần được thành lập khắp nơi, các Chính phủ cai trị đầu tiên đều là những Chính phủ tôn giáo. Các vị Thủ lãnh là những người quyền úy trong bang quốc, thông cảm với thần thánh, có nhiệm vụ chăn dân trên đường tín ngưỡng. Khoảng trên hai ngàn năm trước Tây lịch kỷ nguyên, ở Trung Quốc xưa, có Ngũ đế (Huỳnh Đế, Phục Hi, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn) là những bậc vua hiền đức thờ trời. Ở Trung Đông, ông Abrabam được Chúa Trời hứa cho xứ Canaan, sau đó ông Moise được Chúa Trời truyền cho “Mười điều răn” trên núi Sinai. Ở Ba Tỷ Luân ông Hammourabi noi các nguyên tắc tín ngưỡng thiêng liêng mà lập ra bộ luật Hammourabi.

          Đây là lần thứ nhứt, thần nhân ứng hiện trên thế gian, quan niệm thần thánh đã có hệ thống và thần thánh và nhân loại đã liên quan trực tiếp bình đẳng. Theo Đạo Cao Đài, thời kỳ này gọi là Đệ nhứt kỳ Phổ Độ, có nghĩa như là thời kỳ thứ nhất phát huy tín ngưỡng thiêng liêng vậy.

          II. Đệ nhị kỳ Phổ độ

          Nhất thần giáo và phiếm thần giáo. Nhờ càng ngày càng tiến hóa, năng lực tư duy trừu tượng thêm phát triển, người ta biết hướng dẫn năng lực ấy theo các quan niệm tôn giáo đạo đức. Sự thành lập các đại đế quốc nhờ sự thống nhất quốc gia đem lại loài người một khuynh hướng thuần nhất tín ngưỡng. Hình ảnh một vị vua trị vì thiên hạ khiến họ nghĩ rằng trong vũ trụ cũng có một vị thần tối cao độc nhất. Với sự phát huy tư tưởng triết lý và đạo đức, quan niệm một vị thần độc nhất thích hợp với trình độ tiến hóa loài người. Tôn giáo loại trừ các tín ngưỡng lễ nghi cổ lỗ, phức tạp. Cần có một vị thần tối cao để đem lại trật tự trong đám đa thần. Tôn giáo cần cải tiến theo nhu cầu thời đại. Đó là kết quả của quan niệm nhân hóa quỉ thần vì khi đã nhân tính hóa thần thánh, sự không hợp lý và sự thấp kém thú tính không thể tồn tại. Thần thánh cần có tính cách hợp lý và cao siêu hơn mực bình phàm của loài người nên tôn giáo độc thần có một triết lý khúc chiết uyên thâm và đặc biệt chú trọng phương diện đạo đức nhân sinh.

          Mỗi dân tộc quan niệm một Đấng thiêng liêng cai quản vũ trụ và loài người một cách khác nhau, nhưng tất cả đều trở nên tin tưởng có một vị thần và chỉ một vị thần mà thôi. Đấng tối linh tối cao tạo hóa vạn vật, theo người Do Thái là Đấng Yahvé, người Ai Cập là Akhenaton, người Ba Tư là Ahura Mazda, người Hy Lạp là Zeus, người La Mã là Jupiter, người Ấn Độ là Varuna hay Brahma, người Trung Hoa là Thiên hay là Thượng Đế, người Việt Nam là Trời.

          Vị thần độc nhất này không thể hoặc thiện hoặc ác được, mà chỉ có thể tuyệt đối thiện, đó là gương mẫu toàn thiện mà loài người cố gắng thực hiện.

          Các Giáo sĩ trong các đền chùa đã rời bỏ quyền thế gian cho các vua chúa để chuyên tâm tu luyện, tìm cách siêu phàm nhập thánh, đạt đến cõi thiêng liêng của Thượng Đế. Do đó, một hạng người siêu đẳng, phát huy bản năng tôn giáo đạo đức đến cực độ, xuất hiện. Ấy là các bậc Giáo chủ.

          Các bậc Giáo chủ

          Từ khoảng thế kỷ thứ năm, thứ tư trước Thiên Chúa giáng sinh và sau đấy mấy thế kỷ nữa như có một hiện tượng tôn giáo đặc biệt phát hiện tương đương cùng một thời kỳ. Từ Âu sang Á xuất hiện một lượt các bậc Đại Thánh nhân, sáng lập các Tôn giáo có tánh cách nhất thần.

          Ở Trung Hoa có Lão Tử (khoảng 604 trước Tây lịch) lập ra Đạo giáo, có Khổng tử (551-479 trước TL) lập ra Nho giáo, ở Ấn Độ có Phật Thích Ca (khoảng 543 trước TL) lập ra Phật giáo, ở Ba Tư có Zoroastre (660-583) lập Đạo Zoroastrisme ở Cận đông có Chúa Jesus lập Thiên Chúa giáo, có Mahomet (570-632 sau TL) lập ra Đạo Hồi, các nhà triết lý Hy Lạp Pythagore, Socrate, Platon, Aristote, cũng sinh vào thời kỳ này.

          Đạo Hồi tôn thờ Đấng tối cao Chúa tể muôn loài tên Allah, Đạo Thiên Chúa thờ Đức Chúa Trời (Dieu) đạo Zoroastrisme thờ Ahura Mazda, Đạo Nho thờ Thượng Đế, Đạo Lão thờ Thái Cực đều là nhất thần giáo. Riêng Phật giáo có một tính cách đặc biệt, vì không nhận có một vị thần tối cao mà nhận có một căn tính thiêng liêng toàn chân, toàn thiện cho cả nhân loại, gọi là chân như bản tính hay là chơn tâm như như, phổ biến trong lòng mọi người và trong vạn vật. Đó là một loại phiếm thần giáo vậy.

          Các bậc Giáo chủ ấy, đã thực hiện được nhân cách toàn thiện cảm hóa hằng vạn triệu người biết thông cảm thiêng liêng và trau giồi đạo đức. Các vị ấy tiêu biểu sự tiến hóa tinh thần của con người vượt cao cực độ trên bản năng tầm thường của nhân loại, nên đã để lại ảnh hưởng sâu xa đến trăm ngàn thế hệ về sau.

          Thời kỳ Tôn giáo phát triển đến cực độ này gọi là Đệ nhị kỳ Phổ Độ.

          III. Đệ Tam Kỳ Phổ Độ

          Các Tôn giáo trên do các bậc Giáo chủ nhân cách hoàn thiện sáng lập chứa chấp sẵn mầm cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy sau Đệ nhị kỳ, tư tưởng loài người tiến triển rất nhanh đến tự do tín ngưỡng và tư tưởng. Công phu giáo huấn tín đồ của các tôn giáo, cố gắng giáo dục quần chúng của vua chúa để tranh dành ảnh hưởng với giáo hội, cuối cùng sự phát minh máy in (thế kỷ XIV) đã đột nhiên phát triển trí thức loài người một cách nhanh chóng. Dần dà số người biết đọc biết viết càng ngày càng đông, càng có tư tưởng riêng biệt, càng có óc phê phán, đối với việc thế gian cũng như việc giáo hội. Một cuộc cách mệnh tôn giáo phát sinh dưới sự lãnh đạo của Luther (khoảng 1500) chống giáo hội của Giáo Hoàng và mở đầu cho tinh thần tự do tư tưởng bành trướng thoát ly các hệ thống tư tưởng cổ truyền Thời kỳ lý trí độc tôn đến.

          Khoa học phát triển. Từ thế kỷ XIII, Roger Bacon đã chống lại các hệ thống tư tưởng cổ truyền mà nhất quyết cổ xúy sự học thực nghiệm. Theo đó, ông Galilée (1546-1642) đã xướng ra học thuyết động lực (dynamique), chính ông đã phát minh rằng trái đất nhỏ hơn mặt trời và chạy vòng quanh mặt trời khiến giáo hội buộc ông phải cải chính, nhưng ông vẫn nói: “Nhưng mà trái đất vẫn quay kia mà”. Thật là trái với Thánh kinh cho rằng trái đất là trung tâm bất dịch của vũ trụ. Sau đó, câu nói “Tư duy là thực tại” (cogito ergo sum) của Descar’es càng thúc đẩy tư tưởng khoa học tiến mạnh thêm. Với học thuyết hấp dẫn lực của Newton ra đời, khoa học càng thịnh đạt, khiến Voltaire ca tụng khóa học tiến bộ vô biên. Đến đầu thế kỷ 19, học thuyết của Darwin ra đời, phủ nhận thuyết của Giáo hội nói rằng: Trời tạo ra con người và vạn vật trong thời gian 6 ngày, mà chủ trương rằng loài người do cầm thú tiến hóa lên trải qua hàng triệu năm. Đến đây, Renan tiên đoán rằng khoa học sẽ bóp chết Tôn giáo.

          Sự thật, tư tưởng khoa học thực nghiệm đương độ hăng hái phát sinh đã làm cho hoang mang tinh thần tín ngưỡng không ít. Nhưng cũng nên nhìn nhận rằng các nhà khoa học khởi thủy như: Galilée, Descartes, Bacon, Pascal, Newton,v.v.. không phải là vô tôn giáo, chính họ đã cảm thông tư tưởng tôn giáo thiêng liêng mà phát minh các định luật khoa học vậy. Chẳng những thái độ hoài nghi khoa học mà chính sự khám phá những cái cực nhỏ cũng như những cái cực lớn trong vũ trụ đã khiến họ trở lại tin tưởng thiêng liêng huyền bí hơn, cố nhiên tin tưởng một cách khoa học. Họ đã công nhận hiện tượng tôn giáo cũng như hiện tượng khoa học đều là những hiện tượng thực tại, khác nhau ở chổ một bên thuộc nội tâm, và một bên ở ngoại giới (Husserl), cho nên nhà thiên văn học trứ danh Jeans đã nói: “Tất cả trong vũ trụ đều chứng minh một cách quyết đoán rằng có một sự Tạo hóa nhất đinh. Vũ trụ không thể do ngẫu nhiên mà có”. Nhưng khoa học chỉ có thể nghiên cứu hiện tượng sự vật mà không thể nghiên cứu đến bản thể sự vật được. Tôn giáo tỏ ra cần thiết để bổ khuyết điều ấy. Nhờ đó, các Tôn giáo bị áp đảo một thời kỳ vì tư tưởng tự do phóng khoáng, nay gặp thời vận phục hưng. Các Tôn giáo Thiên Chúa, Phật Giáo, Lão Giáo, Nho Giáo.v.v.. được truyền bá hoặc nghiên cứu tận những nơi xa lạ. Các Hội công đồng tôn giáo Quốc tế giúp cho các tôn giáo hiểu biết nhau và nhân đó gây mối đồng tình tín ngưỡng. Đạo Cao Đài xuất hiện. Thực xưa nay, chưa có bao giờ tôn giáo được phổ biến rộng rãi khắp thế giới như vậy.

          Thời kỳ này gọi là đệ Tam kỳ phổ độ.

          Duy vật vô thần

          Nhưng tôn giáo đương phục hưng một thời kỳ vô cùng gay go. Về tư tưởng, say mê phương pháp thực nghiệm cụ thể người ta đã thành tánh quen quan niệm sự vật một cách vật chất máy móc. Về xã hội, cơ khí nhờ khoa học phát đạt đã gầy dựng lên những nhà tư bản triệu phú sang trọng phú quý và ngược lại, cũng đã tạo nên vô số lao động nghèo khổ, gây thành một sự đấu tranh quyền lợi lớn lao chưa từng thấy. Nghiên cứu lịch sử nhân loại về phương diện tranh đấu giai cấp, người ta kết luận rằng loài người chỉ là một con vật hoàn toàn do hoàn cảnh kinh tế chi phối. Trong tâm của lịch sử đã là kinh tế thì chỉ còn cách tranh đấu đoạt thủ kinh tế mà thôi.

          Chính trị, mỹ thuật, tôn giáo, đạo đức, triết lý, pháp luật .v.v.. đều là sản phẩm của giai cấp thống trị đặt ra, tức là phản ảnh một trạng thái kinh tế áp bức bóc lột. David Strauss, Bruno Bauer, nhất là Fuerbach, Karl Marx và Engels (1820-1895) đã dùng biện chứng duy vật để đã kích tôn giáo, phủ nhận Thượng Đế, cho rằng thần thánh chỉ là tưởng tượng do giai cấp thống trị bịa đặt theo quan niệm quyền lợi kinh tế của họ. Chưa bao giờ tôn giáo bị phản đối phủ phàng như vậy. Sự mâu thuẫn giữa duy vật và duy tâm, tôn giáo và vô thần là con đẻ bất ngờ của khoa học thuở ban đầu và hiện là nỗi khổ vô hạn của nhân loại vậy.

          Với gốc rễ bền chặc từ khi phát sinh nhân loại, Tôn giáo không dễ nhất đán bị phá tan Phản lực của duy vật vô thần có thể coi như hiểm tượng nhất thời.

          Tuy nhiên, cuộc cách mệnh vô sản hiện nay cũng làm nổi bật hai điều là:

          a/ Đa số nhân loại đã hấp thụ tư tưởng tự do, bình đẳng, công lý của văn minh khoa học nên tha thiết thực hiện nhân cách và phát triển cực độ bản năng để thoát ra ngoài đời sống vật chất tầm thường mà sống một cuộc đời tinh thần tự do cao siêu, quang minh.

          b/ Tất cả một người hy vọng một hạnh phúc tập thể cho toàn nhân loại.

          Hai mỗi nhu cầu này, hợp với nhu cầu tiến bộ khoa học đã nói trên kia, là ba nhu cầu sâu rộng của toàn nhân loại hiện nay. Không một công cuộc hướng dẫn nhân loại nào thành tựu, nếu không thỏa mãn ba nhu cầu ấy. Vì vậy, Tôn giáo mà thâm tâm nhân loại hiện nay mong ước cần có ba điều kiện sau:

          1/ Tôn giáo mới phải là tôn giáo đại đồng, liên hiệp mọi tín ngưỡng thành một cộng đồng tín ngưỡng.

          2/ Tôn giáo mới không phản khoa học, trái lại mạnh dạn điều hòa với khoa học. Tôn giáo cần sửa đổi theo tinh thần khoa học.

          Nguyên lý có thể bất di bất dịch, song các cách phô diễn phát hiện phải có tính cách khoa học chính xác, không huyễn hoặc mơ hồ.

          3/ Tôn giáo mới phải đặc biệt chú trọng vấn đề nhần sinh trong khuôn khổ tín ngưỡng Tôn giáo phải tỏ ra thiết thực đại chúng có tánh cách phụng sự con người, chứ không phải để cầu khẩn suông.

          Ba điều kiện này hiện đang được thực hiện trong giáo lý đạo Cao Đài, một tôn giáo đại đồng khoa học và duy nhất.

          Vì vậy mà đạo Cao Đài được gọi là Đại Đạo của Đệ Tam Kỳ Phổ Độ.

          KẾT LUẬN. Suốt lịch sử nhân loại, Tôn giáo mật thiết với nhân sinh như bóng hình. Trải qua nhất kỳ và nhị kỳ phổ độ, tôn giáo đã dẫn dắt người từ đời sống vật chất tiến tới đời sống tinh thần thanh cao. Mỗi một kỳ phổ độ, xuất hiện những nhân vật đã thực hiện được nhân cách cao siêu tuyệt luân. Đến thời kỳ phổ độ thứ ba này, nhờ một Tôn giáo mới, đại đồng khoa học và duy nhân loài người sẽ thực hiện được hạnh phúc đại đồng điều hòa với khoa học tiến bộ, tự tại trong đạo đức cao khiết. Như vậy không chỉ có một số ít người thực hiện được hoàn toàn nhân cách cao thượng, mà cả thảy loài người thực hiện được nhân cách một cách mỹ mãn trọn vẹn. Trong thế giới đại đồng cực lạc ngày mai, người và thần tiên có một.

          Đến đây, Tôn giáo hoàn thành sứ mạng và đó là mục tiêu của Đệ Tam Kỳ Phổ Độ vậy.

TRẦN QUỐC LUYỆN

(Bài đã đăng trong Nguyệt san Nhân Sinh 15/9/1954)


(Hình copy từ trang https://giaoxuchauson.vn/song-dao/albert-einstein-ton-giao-854.html)

Bài đăng cũ hơn Trang chủ

GIỚI THIỆU


Đây là trang học đạo của Ban Phổ Tế Thánh Thất Trung Thành, Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài

Địa chỉ: 101 Lê Đình Dương, Đà Nẵng

Theo dõi chúng tôi

Bài đăng được xem nhiều nhất

  • Vài sự kiện huyền diệu trong công cuộc truyền đạo Trung Kỳ
  • Giáo Lý Cao Đài Căn Bản
  • Xuân ấm lòng
  • Đạo Cao Đài hay Tôn Giáo Tổng Hợp
  • Cách đi dự hội Long Vân Đệ Bát Kỳ
  • Họ Đạo Từ Quang
  • Long Vân Đệ Bát Kỳ Thuật Trần
  • Chiều qua thánh đường nhớ Mẹ
  • THẦY NGỰ TRONG CON
  • LÒNG THÀNH ĐƯỢC CHỨNG GIÁM

Mục

  • nhạc đạo 31
  • Học đạo 28
  • Sử Đạo 13
  • Tuyển tập Sống đạo 8
  • Các họ đạo 4
  • Văn thơ 4
  • Tuổi trẻ Trung Hưng 2

Tra cứu theo ngày đăng

Giới thiệu


Đây là trang học đạo của Ban Phổ Tế Thánh Thất Trung Thành, Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài

Địa chỉ: 101 Lê Đình Dương, Đà Nẵng

Tổng số lượt xem trang

Bài phổ biến

  • Vài sự kiện huyền diệu trong công cuộc truyền đạo Trung Kỳ
  • Giáo Lý Cao Đài Căn Bản
  • Xuân ấm lòng
  • Đạo Cao Đài hay Tôn Giáo Tổng Hợp

Tìm kiếm trong trang

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Copyright © Học Đạo Cao Đài.