VÌ SAO ĐẠO CAO ĐÀI RA ĐỜI

VÌ SAO ĐẠO CAO ĐÀI RA ĐỜI

 Bài giảng của HOÀNG NGỌC TRÁC 

Tôn giáo nào ra đời cũng có một sứ mệnh thiêng liêng cứu đời độ người, giáo lý phổ cập toàn nhân loại sanh chúng, không hạn định riêng một khu vực địa phương nào hay một dân tộc quốc gia nào. Tuy nhiên, tôn giáo xuất hiện cũng tùy cảnh, tùy thời. Hỏi Đạo Cao Đài vì sao ra đời, tức muốn nhận định sứ mạng của Đạo Cao Đài, và cũng muốn nhận định rõ thời thế hoàn cảnh đã khai sinh ra  Đạo Cao Đài.

Nhất là đối với những người hằng để ý đến Đạo Cao Đài cũng như những người đã tin theo Đạo, lời giải đáp cho câu hỏi trên là cần thiết để phá tan các nghi hoặc, để tăng thêm sự nhận định sáng suốt hầu củng cố thêm đức tin.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ sáng khai trên 30 năm (*) nay là một công cuộc sáng tạo, cải cách và kiến thiết một nền tản tinh thần đạo đức chung cho nhân loại, lấy giáo lý và kinh nghiệm của các tôn giáo lớn trên thế giới mà bổ tinh cứu tệ lập thành một giáo lý mới mẻ, một triết lý đại đồng thích hợp cho nhân loại ở hiện tại và vị lai.

Với tính cách ấy, Đạo Cao Đài xuất hiện vì 3 lý do chính:

1) Vì cuộc diễn tiến của nhân loại đời nay

2) Vì sự phân vân hoang mang của nhân loại đối với các phương pháp cứu rỗi của các tôn giáo sẵn có.

3) Vì nạn tôn giáo chia rẽ.

Loài người tiến đến thế kỷ 20, ở vào thời kỳ tam nguơn mạt hậu, trải qua từ thượng cổ, trung cổ, cận kim đến nay, cứ lẩn quẩn loay quay trong công lệ tuần hườn, lóc lăn trên đường sanh tử duyên nghiệp, triền miên khổ hải. Vì kiếp sống phù vân loài người đã hao mòn tiêu phí bao não cân tâm huyết, bao trí tuệ thiện căn, chịu cho màn vô minh che lấp, cho sóng tình lôi cuốn, vì mãi nhận giả thể cuộc đời mà quên lãng địa vị cao quí của mình trong trời đất, để thiện tính lu mờ, thiện căn vùi dập, chịu đày đọa vì tội lỗi chồng chất.

Khối linh quang của Thượng Đế ban phó cho mỗi người mà Nho giáo gọi là “minh đức” hay lý tính, Phật giáo gọi là “như lai” hay chân tâm và Lão giáo gọi là Huyền quang, càng bị tiêm nhiễm mùi tục lụy, càng bị che lấp, khiến loài người càng đi vào đường mê lầm trụy lạc, đưa đến biết bao thảm họa.

Vật chất khoái lạc hoành hành, cơ khí thần thánh, loài người đã sống một cuộc đời hầu như máy móc mà động cơ chỉ còn là danh lợi khoái lạc. Thiện tâm thiếu nuôi dưỡng để cho ác tâm nẩy nở, sự cạnh tranh đã diễn ra càng ngày càng ác liệt dưới muôn vàn hình thức và trong mọi phạm vi, mọi địa hạt. Chiến tranh càng ngày càng khủng khiếp tai hại, “sát nhân dinh thành dinh giả”, “thổ địa thực nhân nhục”, sanh linh đồ thán thất điên bát đảo, cõi đời hắc khí mịt mù, tai họa tận diệt dường ấy nhưng loài người nào có tỉnh ngộ, vẫn kiêu căng tự đại ở lý trí, ở tiến bộ, dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Do sự thúc đẩy của thời kỳ mạt pháp ma cường, Đạo Cao Đài ra đời để giác ngộ loài người, đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh mới mẻ để phá tan bao vô minh nghiệp chướng, cho ai nấy thấy rõ con đường đạo đức quang minh, hầu quay đầu trở về lương tri và Thượng Đế để đem hết bản năng tâm lực tự tạo cảnh thiên đường cực lạc giải thoát tương lai vậy.

Đến đây sẽ có bạn hỏi rằng: nếu nguyên nhân thứ nhứt là giác ngộ loài người mà vạch con đường giải thoát, thì các tôn giáo đã có từ trước há chẳng đã làm rồi đó sao, hà tất phải có Đạo Cao Đài nữa?

Chính vì vậy mà ta cần giải rõ nguyên nhân thứ hai.

Từ khi bắt đầu có loài người đến nay, để duy trì sự trật tự sống còn, đạo đức lễ nghĩa chế độ phải có giữa xã hội. Các học thuyết ra đời để giúp thêm sự thấu triệt vũ trụ vạn vật hầu tăng thêm phạm vi hiểu biết và hoạt động cho loài người. Các tôn giáo cũng ra đời để nhắc nhở trừng răn nhơn tâm, truyền bá đạo đức gây nên một đời sống xã hội yên vui hòa ái.

Các vị giáo chủ mà khối linh quang còn nguyên vẹn, tâm minh đức còn trong sáng, sanh bình một thời các ngài đã đem bao nhiêu tài năng trí thức đạo đức để làm mô phạm cho đời, giác ngộ loài người, tùy nhân tâm phong tục thời thế, các vị cũng như các lương y tùy căn bệnh mà đầu thang thích hợp. Đó là trường hợp Đức Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Jesus hay Moise v.v… Sau khi các ngài đã thành người thiên cổ, nào tư tưởng, hành vi, qui mô, lịch sử các ngài đều được đời sau xây dựng sưu tập thành nền tản giáo lý, học thuyết để làm khuôn vàng thước ngọc cho muôn đời  noi theo.

Trải đến cận kim, vì lẽ diễn tiến của loài người, bao nhiêu hình thức nghi văn, bao nhiêu chân truyền tư tưởng tránh sao khỏi có chỗ không thích hợp, hơn nữa còn bị lắm người hiểu lầm tin nhãm, hoặc xuyên tạc, làm sai lạc chân tướng, chân truyền chánh giáo yếu lý càng ngày bị lu mờ thất lạc. Như vậy, giáo lý các ngài làm sao còn giữ nguyên được hiệu nghiệm giáo hóa như đương thời các ngài.

Huống nữa, nhơn tâm suy vi, tôn giáo suy đồi thì có những người thừa cơ hội cơ giới phát đạt gây nên cảnh trạng rối loạn kinh tế mà xướng thuyết duy vật, thuyết vô thần v.v… làm cho tôn giáo bị lung lay đến cội rễ, để toan thay thế bằng những lý thuyết đấu tranh cực đoan mong xây dựng một xã hội loài người không giai cấp, không tôn giáo, trong đó người không còn nhân phẩm nữa.

Nhân loại tiến đến giai đoạn hiện tại, tri thức phát triển mà dục vọng vô biên, trở thành bệnh nhân đa chứng, biến chứng phiền toái, không thể chấp nhứt một phương thang hòng cứu chữa loài người trở nên kiện toàn để vui hưởng hạnh phúc, nên rồi kẻ chấp lý duy tâm là độc nhứt, gì gì cũng duy tâm mà đối với người đời vẫn mơ màng không ai thấu hiểu nhận chân; còn kẻ đánh đổ duy tâm, cố sức xúi dục loài người chạy theo duy vật, lấy kinh tế làm căn bản mà bỏ hẳn luân lý đạo đức là những yếu tố cần thiết cho sinh tồn hạnh phúc của loài người.

Do đó, tôn giáo học thuyết ra đời rất nhiều mà nhân tâm thế đạo vẫn mù mịt, trước muôn ngàn phương châm cứu rỗi, lòng người vẫn phân vân bất quyết. Chính vì thế mà Đạo Cao Đài ra đời để đem lại một phương châm thích đáng, không chấp xưa, không nệ nay, không thiên duy vật, chẳng lệch duy tâm, vạch rõ cho nhơn loại một đường giải thoát, bác ái dung hòa, hạnh phúc đại đồng.

Riêng trên phương diện tôn giáo, ta nhận thấy các tôn giáo ra đời từ xưa trải đến nay đã trở thành cố chấp khô khan trong những nghi thức cựu truyền, hư văn câu nệ, một mặt không dung hòa với các tôn giáo khác, một mặt không dung lưu với thế tục, vừa làm cho tôn giáo thêm chia rẽ, giảm mất uy tín và thế lực cứu đời, vừa biệt lập tàn cỗi không giải quyết các rắc rối nhân sinh thế sự, hầu trở nên vô bổ với đời.

Trước muôn vàn nguy cơ tiêu diệt nhân loại vì chiến tranh, trước cảnh tôn giáo điêu tàn, đạo đức suy vi, trước cảnh thống khổ vô hạn của nhân sinh, thị dục tội lỗi sa đọa vô biên của loài người, một tôn giáo mới khéo thế hiệp đời và đạo, bao dung hai quan niệm vật lẫn tâm, rất cần để đem lại cho loài người một lòng tin tưởng sâu xa, một hy vọng tràn trề để sống cuộc đời chân hạnh phúc. Đó là nguyên nhân thứ ba khiến đạo Cao Đài ra đời, mục đích giác ngộ các tôn giáo cùng chung sức trong sự cứu độ nhơn sinh theo đúng tâm nguyện của các giáo chủ. Các bậc giáo chủ vì bác ái vô biên mà tận tụy hy sinh để hoằng pháp lợi sanh, trưởng dân phụ thế lẽ nào không lập thành một cuộc dung hiệp rộng rãi giữa các tôn giáo để tận độ nhân sanh ư?

Thế gian càng chia rẽ thì tôn giáo càng cần hội hiệp, thế gian càng xao lãng đạo đức thì tôn giáo càng cần nao nức giục trống rung chuông cảnh tỉnh.

Đạo Cao Đài đã vì 3 nguyên nhân kể trên mà ra đời thì cũng vì 3 lý do ấy mà tìm phương pháp cứu độ thỏa mãn cho toàn nhân loại, để tạo lập một thế gới đại đồng hạnh phúc, đạo đức hòa bình, tuyệt đối chân chính tự do.

Những ai ưu tư vì nhân tâm thế cuộc những ai nặng lòng mến đạo yêu đời, há chẳng nên vì nguyên nhân kể trên mà cùng nhau tận lực dốc chí thực hiện lý tưởng cao quí của đạo Cao Đài ư?

(Bài đăng trong tạp chí Nhân sinh số 6-7 ra ngày 15.3.1955. Lưu ý, tạp chí đăng lại bài giảng của tiền bối khi còn sinh tiền, ngài đã liễu đạo năm 1945)

Ghi chú:

(*) "Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ sáng khai trên 30 năm nay": Có lẻ do Ban biên tập diễn giải bài giảng của Tiền bối vào thời điểm xuất bản 1955. Nếu sửa lại 30 năm thành mấy mươi năm là phù hợp.

 Ngoài ra, trong tạp chí dưới bài ghi Hoàng Ngọc Trát, ngoài trang bìa phần mục lục in Hoàng Ngọc Trác, đó chính là ngài Huỳnh Ngọc Trác!

Ảnh ngài Huỳnh Ngọc Trác khi thọ tang mẹ.

0 Bình luận