TÍN NGƯỠNG ĐỂ LÀM GÌ?
của QUỐC LUYỆN
Không phải vì tôn giáo tín ngưỡng đã có từ đời tối cổ mà nay đã thành lệ quen, ai ai cũng đồng công nhận là cần thiết và tự nhiên. Trái lại số người hoài nghi giá trị tín ngưỡng, có khi công kích tôn giáo cơ hồ mỗi ngày một tăng. Có thật tôn giáo tín ngưỡng là điều vô bổ cho thế gian chăng?
Trong tất cả các sức mạnh đã và đương biến đổi vận mạng loài người, thật không có gì mạnh mẽ bằng mãnh lực tín ngưỡng tôn giáo. Mọi tổ chức xã hội đều đã chịu hoặc ít hoặc nhiều sức lực ấy chi phối. Chính tín ngưỡng tôn giáo đã là yếu tố đoàn kết loài người thành đoàn thể kiên cố nhất. Trong biết bao trường hợp, mối liên lạc tín ngưỡng đã tỏ ra bền chặt mạnh mẽ hơn các liên lạc về huyết thống chủng tộc, về địa phương xứ sở. Ai chẳng nhìn nhận rằng những người thờ một Đấng Thiêng liêng, cùng tin tưởng một Đạo, thân mến thủy chung với nhau khắng khít lâu dài hơn cả những người cùng là bà con quen thuộc, hoặc anh em giòng họ. Ta thử tìm xem vì đâu tôn giáo lại có sức cảm hóa hấp dẫn đến thế.
I. TÔN GIÁO MỞ RỘNG PHẠM VI SINH HOẠT.
Tất cả các tôn giáo đều có tính cách siêu nhiên, không nhận do người tạo ra mà chính do thiêng liêng truyền dạy, do thần bí ngoài sức lực trí óc thế gian tạo ra. Có thuyết cho tôn giáo là do sự thờ cúng tổ tiên mà ra, cũng có thuyết cho tôn giáo là kết quả của quan niệm về tuyệt đối vô biên.
Người ai cũng có lòng nhớ tưởng đến người thân quá vãng, tin rằng xác thân có chết mà linh hồn vẫn còn, nên bày cúng tế thờ phụng. Do đó mà nảy sinh ra tôn giáo. Thật vậy, trong khắp các dân tộc, Trung Hoa hay Ai Cập hay Ba Tỷ Luân hay Mỹ châu, sự thờ cúng ông bà là hình thức tôn giáo đầu tiên.
Nhưng cũng lắm nhà khảo cứu cho rằng tôn giáo phát nguồn từ sự tôn thờ thiên nhiên mà ra. Loài người muốn đem trí óc chọc thủng màn bí mật bao bọc chung quanh. Mưa gió sấm chớp, bão lụt thiên tai, tất cả đều khiến loài người suy gẫm, tìm hiểu lý do, rồi quan niệm giải thích như đều do Thần điều khiển, hoặc giả sấm chớp chính là thần linh vậy.
Hai thuyết này mới thấy như trái nghịch nhau, nhưng sự thực đều giống nhau ở điểm chứng tỏ rằng loài người bằng muôn ngàn hình thức biểu hiện khác nhau luôn luôn có khuynh hướng phấn đấu thoát ly ngoài giới hạn chật hẹp của vật chất, ngoài khả năng tầm thường của xác thân. Như vậy, thờ cúng tổ tiên có nghĩa là tìm hiểu một cuộc đời mai hậu, sau khi xác thân đã chết, tôn thờ mãnh lực thiên nhiên là tìm hiểu thần lực bí ẩn núp sau hình tướng sự vật vậy. Trong hai trường hợp kể trên, bất luận ở vào trường hợp nào có một điều chắc chắn là loài người luôn tìm cách vượt ra ngoài sự sống bằng giác quan nhục thể. Loài người chưa hài lòng với các giác quan của họ, với những ý niệm do giác quan trực tiếp đem lại. Họ muốn đi xa hơn nữa, hiểu sâu hơn nữa. Thái độ này không có nghĩa gì bí mật mà rất tự nhiên là khác. Ý niệm đầu tiên về tôn giáo là ý niệm về chiêm bao hay là mộng, và đó cũng là ý niệm đầu tiên về linh hồn bất diệt. Với người xưa, cũng như với những người năng khiếu ngu độn hay ấu trĩ, cảnh mộng và cảnh thực không phân biệt mấy. Vậy thì cũng là điều tự nhiên mà nghĩ rằng trong giấc ngủ, xác thân có khác gì xác chết, thế mà linh hồn vẫn đủ các hoạt động như khi tỉnh. Từ đó đi đến kết luận rằng sự hoạt động của linh hồn vẫn còn mãi sau khi xác thân chết hay tan rã, thật là gần vậy. Từ các ý niệm thô sơ ấy, loài người đã dần dần đi dến các ý niệm cao xa khác. Với thời gian, đa số người từng trải thấy rằng các điểm mộng không đúng với thực tế và trong lúc mộng, người ta không phải sống một cuộc sanh hoạt mới, mà thực ra chỉ là mơ nghĩ lại những kinh nghiệm đã trải qua lúc thức tỉnh.
Do đó, loài người mới bắt đầu quay lại tìm trong tâm linh mình những hoạt động hay trạng thái cao siêu hơn trạng thái khi tỉnh hoặc khi mộng. Những trạng thái cao siêu ấy, tất cả các tôn giáo đều nhận định và gọi là khải ngộ. Trong tất cả các tôn giáo, các giáo chủ, các nhà tiên tri, các thiên sứ đều tỏ ra đã ở trong những trạng thái đặc biệt, không mê mà không tỉnh, và trong lúc ấy đã tỏ ra cảm thông được những việc thiêng liêng huyền bí, mà tuyệt nhiên không hề vận dụng trí óc suy nghĩ.
Tất cả các tôn giáo đều công nhận trí óc loài người có lúc vượt hẳn ngoài cảm giác của xác thân hay tư duy của trí óc, do đó có thể thông suốt được những việc mà dùng giác quan hay tư duy không đạt được. Đó là nền tảng chung của các tôn giáo và cũng là sự kiện chứng tỏ tôn giáo rất cần cho loài người để thỏa mãn lòng ham muốn của loài người được sống một cuộc đời khoáng đãng vô biên với tất cả năng khiếu tiềm tàng mở rộng.
II. TÔN GIÁO QUAN HỆ CHO ĐẠO ĐỨC
Những điều nhận định như trên của các tôn giáo còn có tính cách chung là hoàn toàn hướng về một lý độc nhất vô nhị trừu tượng, khác hẳn các phát minh khoa học rất cụ thể. Lý trừu tượng độc nhất ấy hoặc coi như một đấng tối cao vô hình, hoặc coi như bản ngã vũ trụ. Ngày nay dù tiêm nhiễm tinh thần khoa học đến dâu, người ta cũng vẫn phải dùng những danh từ rất trừu tượng như định luật tối cao thiêng liêng hay lý độc nhất lý tưởng, xác minh rằng những sự kiện trừu tượng này không ở trong phạm vi sự kiện cảm giác bình phàm của ta. Mà thực ra, trong chúng ta thử hỏi ai là người đã được thấy đấng thiêng liêng tối cao hay là một nhân vật siêu nhiên nào, ấy thế mà người ta cứ bảo ta phải tin. Chúng ta chưa từng thấy ai toàn thiện cao siêu tuyệt đích, ấy thế mà nếu ta không tin ở một lý tưởng như vậy thì ta lại không còn tiến bộ được nữa.
Các tôn giáo đều dạy ta tin một Đấng trừu tượng độc nhất tuyệt đối, theo nhiều hình thức danh hiệu khác nhau. Chúng ta cố đạt đến lý tưởng ấy. Tất cả mọi người, dù bản tính ra sao, đều có một lý tưởng về quyền năng tuyệt đối và hạnh phúc tuyệt đối. Tất cả các hoạt động ta thấy chung quanh ta chỉ là những cố gắng để đạt đến quyền năng hay hạnh phúc tuyệt đối kia mà thôi. Có một ít người nhận rằng không thể dùng giác quan để đạt đến quyền năng lý tưởng ấy được, hạnh phúc lý tưởng ấy được, vì giác quan rất cạn gần, vì thể xác rất hữu hạn để đạt đến vô hạn vô biên được. Không thể dùng cái hữu hạn dễ thấu triệt cái vô hạn được, nên người ta phải từ bỏ cái hữu hạn để được cảm thông cái vô hạn dễ dàng hơn.
Đó là một việc hy sinh, và sự hy sinh, là nền tảng để xây dựng luân lý đạo đức vậy. Đạo đức dạy phải hy sinh mình cho người khác, mục tiêu đạo đức là trừ bỏ cái ta để vì kẻ khác. Các tôn giáo dạy phải trừ bỏ tình dục hay phàm ý của giác quan thể xác để đi đến quyền năng hay hạnh phúc vô biên. Thể xác bảo: phải vì bản ngã đã! Tôn giáo bảo: phải nghĩ đến lý tưởng đã. Mà tất cả các tôn giáo đều đồng thanh lấy sự hy sinh trừ bỏ vật chất thế gian làm cốt yếu cả, vì lý tưởng tuyệt đối vô biên không thể tìm thấy trong sinh hoạt vật chất thế gian.
Vậy loài người cần phải từ bỏ vật chất mà tiến lên những thế giới cao siêu hầu tìm thấy Đấng vô biên, nên nguyên tắc chung cho mọi nền đạo đức đều là phải hy sinh cá nhân bản ngã. Diệt trừ bản ngã là lý tưởng của đạo đức vậy. Nói đến diệt trừ bản ngã thì ai cũng ngại, nhưng chính mục đích của đạo đức là diệt trừ hơn là xây dựng cá nhân.
Những người duy vật hoặc thực tế không chịu nhận giá trị của tôn giáo, song làm thế nào có đạo đức được, nếu không có ý niệm thiêng liêng. Không phấn đấu để tiến đến toàn thiện toàn chân thì không thể có lý tưởng được. Hơn nữa, một nền luân lý đạo đức có ý niệm về tôn giáo, về thiêng liêng, có khả năng bao trùm toàn thể bản ngã khả năng vô tận của con người. Đạo đức ấy lấy người làm đối tượng với Đấng toàn thiện, và như vậy, đạo đức áp dụng chung cho mọi xã hội, không riêng biệt ở trình độ hay thời đại nào. Tôn giáo quan hệ với đạo đức mật thiết, nên cần thiết cho nhân sinh không thiếu được.
III. TÔN GIÁO LÀM CHO CUỘC ĐỜI THÊM HỨNG THÚ
Có người cho rằng việc thế gian chưa xong, hơi đâu lo việc viễn vông. Không phải vậy, nếu vì lo việc tôn giáo mà có hại cho việc thế gian, thì trái lại vì quá lo việc thế gian mà càng có hại cho thế gian ở hiện tại và ở cõi vô hình nữa, vì người ta không nên lấy thế gian hiện hữu làm mục đích, mà phải có cái gì cao siêu hơn nữa.
Con người chỉ xứng đáng là người nếu biết đem mình vượt lên trên cõi hiện hữu, vượt lên trên tạo vật, tạo vật bên ngoài cũng như bên trong. Tạo vật không phải chỉ là các định luật chi phối vật chất bên ngoài cũng như bên trong xác thân ta, mà còn gồm cả phần thanh cao ở trong ta, phần linh động sai khiến vật chất. Chinh phục sự vật bên ngoài là điều hay, nhưng chinh phục sự vật bên trong lại càng hay hơn. Hiểu rõ các sức lực chi phối các hành tinh, các định tinh là hay, nhưng hiểu rõ các sức lực, các cái bí ẩn chi phối tâm tình tư tưởng bên trong ta lại càng hay hơn nhiều. Sự chinh phục thế giới tâm linh bên trong, sự thấu hiểu những cái ẩn vi linh diệu của trí óc ta, sự tìm biết các điều bí tàng ly kỳ trong tinh thần ta, những cái ấy phải do tôn giáo mà có.
Bản tính con người vẫn muốn nhìn nhận những sự kiện vật chất thô sơ. Con người tầm thường đâu có hiểu những điều tế nhị. Người ta quen nhìn khoái trá con sư tử vồ hằng trăm con dê, nhưng chẳng hề nghĩ đến rằng đó là sự chết chóc đau khổ của con dê. Người ta thường chỉ thích những việc dương oai diệu võ, và chỉ thích những việc hình tướng bên ngoài thôi.
Nhưng trong bất cứ xã hội nào, cũng có một thiểu số người không lấy vật chất làm khoái lạc. Thỉnh thoảng họ nhận thấy những điều cao siêu ngoài lẽ vật chất thường tình, nên họ cố gắng cầu đạt. Nếu ta đọc kỹ lịch sử các dân tộc, ta luôn thấy rằng sự hưng thịnh bắt đầu khi dân tộc đó có được hạng người nói trên phồn thịnh đông đúc, và trái lại, khi hạng người này tiêu mòn thì đó là bắt đầu sự suy vong của dân tộc ấy. Sinh lực của mỗi dân tộc do ở tôn giáo, ở sự cầu đạt tuyệt đối chí cao mà ra, nên khi tinh thần tôn giáo suy giảm là lúc vật chất bắt đầu thịnh hành và vật chất thịnh hành là dân tộc ấy đi đến tiêu vong.
Ngoài những chân lý mà tôn giáo vạch ra ta thấy, ngoài sự khoáng đạt thơ thới mà tôn giáo đem lại cho tâm hồn ta, nếu xét tôn giáo như một khoa học, một môn nghiên cứu thì quả thực không có môn học suy tầm nào bổ ích, cao thượng và trong sạch cho tâm hồn nhân loại bằng tôn giáo. Sự truy tầm tuyệt vời vô biên, sự tranh đấu để thực hiện tuyệt đối vô biên, sự cố gắng để vượt lên trên mọi khả năng của giác quan, vượt ra ngoài chi phối của vật chất, để thực hiện con người thiêng liêng cao cả, sự cặm cụi mài miệt ngày đêm để đồng nhất tuyệt đối thiêng liêng với bản ngã ta, sự tranh đấu, sức cố gắng ấy quả thực là cuộc tranh đấu, một sự cố gắng lớn lao vĩ đại oanh liệt nhất, giá trị nhất của loài người vậy.
Có người lấy ăn ngon làm vui thích, ta vẫn không có quyền bảo họ đừng làm thế. Trái lại, những người ấy cũng không nên bảo những người tìm lạc thú trong đạo lý tôn giáo là không nên. Khoái lạc vật chất càng nhiều chứng tỏ trình độ càng thấp kém. Người ta không thể ham ăn như lang sói chỉ hoàn toàn biết có việc ăn theo thú tính mà thôi. Ở khắp nơi đâu đâu cũng thế, hạng người hạ đẳng chỉ biết tìm khoái lạc trong vật dục thị hiếu, còn hạng người có học thức văn hóa lại tìm lạc thú văn chương, triết lý, tư tưởng, nghệ thuật. Tinh thần tư tưởng vô giới hạn và có tính cách cao thượng, nên cảm hứng khoái lạc cũng thanh tao vô biên.
Vậy nên người ta cần đào luyện tư tưởng tôn giáo, vì đó là nguồn lạc thú hay đẹp. Tôn giáo là động cơ mạnh nhứt để huy động tinh thần người ta. Không lý tưởng nào khai thác triệt để năng lực người ta bằng lý tưởng tôn giáo, nên tôn giáo rất cần được nghiên cứu truy tầm. Chính đa số các vĩ nhân đã xáo trộn thế giới đã đem lại cho thế gian nguồn điển quang thu hút mạnh mẽ, tinh thần đã ảnh hưởng đến muôn vạn người theo, đem lại cho người chung quanh một thứ lửa thiêng bùng cháy, các bậc vĩ nhân ấy đều cùng một căn bản thiêng liêng là họ đã nhờ tôn giáo mà phát huy được năng lực tối đa.
IV- DUNG HÒA TÍN NGƯỠNG
Nhưng không nên quan niệm tôn giáo một cách chật hẹp như xưa, những ý kiến thiên lệch hẹp hòi đã lỗi thời. Thành kiến chi phái, thành kiến địa phương, thành kiến chủng tộc, sự thiên kiến cho tôn giáo mình là phải, tín ngưỡng người khác là dị đoan bậy bạ, đều nên gạt bỏ.
Bởi vì tinh thần nhân loại càng ngày càng mở rộng, thì tinh thần thiêng liêng cũng cần mở rộng. Đã đến lúc mà một tư tưởng vừa phát hiện thì liền phổ biến khắp mặt địa cầu. Nhờ các phương tiện vật chất, loài người liên lạc với nhau khắp cả năm châu. Vậy nên tôn giáo lý tưởng của nhân loại hiện nay là một thứ tôn giáo rất đại đồng, rất phổ biến.
Lý tưởng tôn giáo cần xây đắp là phải bao gồm được tất cả những cái cao quý tốt đẹp hiện hữu trên thế gian, và cũng cần phải có một khả năng vô hạn để tiến triển tương lai. Không nên vì quan niệm khác nhau về thần linh mà các tôn giáo nghịch lẫn nhau. Như thế chỉ gây thêm khổ não cho loài người và tôn giáo tự diệt mà thôi. Thế lực ảnh hưởng tôn giáo rất mạnh, miễn là các tôn giáo trở nên dung hòa, đại đồng. Một tôn giáo cao thượng, đại đồng sẽ thâm nhập vào mọi yếu tố nhân sinh. Tôn giáo còn ở trong đền chùa là tôn giáo của thiểu số người, tôn giáo của lễ nghi kinh điển, nhưng nếu ta quan niệm một cách rộng rãi thì tôn giáo trở nên có tính cách phổ biến và linh hoạt, sẽ ảnh hưởng sâu xa tâm hồn ta, sẽ thấm vào mọi từng lớp nhân quần.
V. KẾT LUẬN
Tóm lại, tôn giáo tín ngưỡng rất là hữu ích, vì tôn giáo mở rộng phạm vi sinh hoạt và tăng cường năng khiếu của ta, đào tạo cho ta một tinh thần đạo đức cao thượng, cùng đem lại đời ta một nguồn cảm hứng khoái lạc vô biên. Nhưng tôn giáo cũng chỉ hữu ích trong phạm vi dung hòa đại đồng với tôn giáo khác. Nếu có tín ngưỡng thì chúng ta chỉ nên tín ngưỡng trong những điều kiện ấy thôi.
(Bài đã đăng trong tạp chí Nhân Sinh 15.3.1955)

0 Bình luận