NGƯỜI TU ĐẠO CÓ CẦN HỌC KHÔNG?

Giáo sư Ngọc Luyện Thanh (đi giữa)
tham dự Đại hội các Chi phái 15/7/Kỷ Tỵ - 1989
tại Ngọc Sắc, Minh Chơn Đạo

 NGƯỜI TU ĐẠO CÓ CẦN HỌC KHÔNG?

Quốc Luyện

Trong thời kỳ phổ độ ồ ạt buổi đạo mới phát khai, việc tu hành có vẻ thật dễ dàng, bất luận trai gái già trẻ thượng lưu quí phái hay bần cùng ngu lậu, ai ai cũng có thể tu được cả. Mà thực vậy, nếu ở đời có một thứ bình đẳng lý tưởng thì tôn giáo nhất là Đạo Cao Đài, là một địa hạt bình đẳng tốt đẹp nhất vậy. Cái tiêu chuẩn duy nhứt để đạt đến bình đẳng lý tưởng ấy là chỉ cần có đức tin thiêng liêng là đủ. Vì nhu cầu phổ độ, việc Đạo lúc bấy giờ quả chỉ chú trọng vào việc truyền bá đức tin ấy mà thôi. Nhưng cũng do theo đó mà nảy nở trong hàng tín đồ một quan niệm khinh suất cho rằng muốn tu hành chỉ cần có đức tin và đức tin không thôi và muốn đắc quả, chỉ cần trưởng dưỡng đức tin ấy đến cuồng nhiệt say mê là đủ. Mặc dù nay đã qua thời hoằng khai buổi đầu, song tâm trạng nói trên vẫn y nhiên không thấy thay đổi.

Muốn tu hành đắc quả, có thật chỉ cần đức tin là đủ? Về phương diện tôn giáo, đức tin là tối cần, không có đức tin, không thể nói đến tín ngưỡng được. Đó là điều kiện cần thiết, nhưng không thì bảo rằng đó là điều kiện đầy đủ.

Chỉ tin suông rằng có Trời Phật và luôn luôn mặc niệm Trời Phật có thể đưa đến đắc quả không? Trừ những trường hợp hy hữu đi đến trình độ thánh thiện, còn những tín đồ bình phàm, thân tâm còn đầy nghiệp chướng, còn đầy ràng buộc thế gian, nhứt quyết không sao đạt đến kết quả ấy được. Nếu ta biết rằng Phật Thích Ca đã muôn vàn kiếp tu mới đắc quả vị, nếu ông Khổng Tử, Lão Tử  đã là những người có nhân cách trác tuyệt, có đạo học thâm uyên, thì làm sao ta có thể tin rằng không thông giáo lý, tôi chỉ nói ngay giáo lý đạo Cao Đài thôi, làm sao có thể cứ chắp tay niệm Trời cầu Phật mà tự nhiên thành Tiên Phật được. Nếu vị tín đồ ấy hoàn toàn không còn ràng buộc thế gian, ví dụ vào tịnh luyện nơi thâm sơn cùng cốc đi nữa, thì thử hỏi vị ấy có thể đắc quả không, trong khi chưa hiểu linh hồn là thế nào, Trời Phật là thế nào, hình thù mặt mũi ra sao? Nếu không cầu học thì chỉ còn cách tưởng tượng theo ý dục vọng phóng túng, mà nếu đã vậy thì có tin tưởng đến đâu đi nữa Trời Phật cũng không chứng được vì Trời Phật một đàng mà đi tin tưởng một nẻo, làm sao gặp nhau được? Ăn chay, cầu khẩn, lễ bái, tụng kinh, gõ mõ suông cũng vậy. Các hình thức ấy rất cần để tập luyện thân tâm thanh tịnh, diệt trừ vọng niệm, nhưng như vậy cũng vẫn chưa đủ. Cho đến tu luyện đến nhịn thở, nhịn ăn như các thầy phù thuỷ Ấn độ (Fakir) đóng trong hòm gương hằng trăm ngày vẫn sống như thường, các vị ấy đâu đã là Tiên Phật, vì Tiên Phật phải còn cái gì cao siêu hơn các phép ấy nữa kia mà.

Lại còn nhiều tín đồ tin rằng chỉ cần lập nhiều âm đức là được. Nhưng thế nào là âm đức? Nếu theo các kinh sách xưa mà cho rằng nhặt giấy chữ rơi rớt đốt thả dòng sông, hay mua chim cá phóng sinh, hay cùng nữa bố thí năm ba đồng cho người ăn xin là đã lập công bởi đức thành Tiên tác Phật thì thật là mĩa mai Trời Phật quá! Thử hỏi những người thu rác suốt ngày quét rác thu nhặt giấy bẩn ngoài đường có thể một ngày kia trở nên Tiên Phật chăng? Ví dụ có thật nhiều tiền để mua tất cả các chim cá heo bò cừu dê gà vịt mà thả lên rừng núi, thì liệu có mua được hết chăng? Và nếu mua phóng sinh đi nữa thì đến con số nào là có thể thành Tiên Phật được, hoá vậy thì có nhiều tiền là hết cả oan nghiệp, là Tiên Phật rồi chăng? Bố thí người nghèo cũng vậy, có gì đủ để ta trở nên Tiên được.  Ở các nước văn minh, những nhà hằng tâm hằng sản bỏ hàng triệu xây nhà thương, lập trường học, mở nhà mồ côi, bao nhiêu công trình to lớn nhơn đạo, song có vậy không thôi thì làm gì trở nên Tiên Phật được, huống hồ cho người nghèo khi 5, 3 đồng, trong khi mình giàu có hàng vạn, ô tô, nhà lầu tôi chưa nói đến cách làm giàu nhân đạo không thì lại càng không nên tưởng vọng làm Tiên, Phật nữa.

Lương Võ Đế cất 72 cảnh chùa mà nào có trở nên Tiên Phật đâu, huống hồ những người quyên tiền xây chùa, đúc tượng, tôi chưa nói chùa ấy có ích lợi thiết thực gì không, thì không thể vì thế mà được thành Tiên Phật.

Tóm lại, các cách tu như trên không đủ để thành tiên Phật được, họa chăng lập được đôi phần âm chất thôi, nhưng âm chất này cũng tương đối lắm, vì cần phải biết rõ nguyên động lực tâm lý nào xui khiến làm các việc ấy. Nếu nguyên động lực ấy là một ý niệm dục vọng, tà vọng như vì bắt chước mà làm, hay vì háo danh háo lợi háo thắng mà làm thì thật là công toi, đức đã chẳng có mà còn thêm tội. Huống hồ, trong khi thi hành các việc âm chất ấy mà chính thân tâm mình không biết cách tu dưỡng, không hiểu rõ thiện ác, chính tà, hơn nữa, không tìm cách đoạn nghiệt mà cứ luẩn quẩn trong vòng tình dục thế gian, làm thêm bao nhiêu tội ác, gây thêm bao nhiêu nghiệp chướng, tưởng thêm bao nhiêu ác niệm ác ý, việc thiện có một mà việc ác trăm nghìn vạn lần, thì có tu đến vạn kiếp đi nữa, cửa thiên đường không mong gì trông thấy mà cửa địa ngục đã gần kề.

Cứ riêng như một việc phân biện thiện ác, cũng không phải là dễ. Việc đời có phải đơn giản đâu, cái tiêu chuẩn phân biệt thiện ác có phải bất cứ thời nào, chỗ nào, trường hợp nào cũng giống hệt đâu, có phải có khuôn mẫu sẵn cứ thế áp dụng bất di bất dịch đâu. Việc rắc rối nhất đối với anh chị em tín đồ là trong khi tu vẫn lăn lộn chung sống với thế gian, phải nằm trong khuôn khổ thế gian mà tìm cách giải quyết vấn đề thiện ác trong mỗi hành động cử chỉ. Trong việc phân biệt thiện ác trong sự sinh hoạt hằng ngày, nào có phải dễ dàng như anh chị em ta trong một thất hay trong một Đạo đâu, ta phải đương đầu với biết bao hạng người trong xã hội, biết bao cá tính riêng biệt, người nào cũng đầy dục vọng tham sân si, đầy mâu thuẫn quyền lợi hư danh, đầy ràng buộc của thế tình, ơn nghĩa, địa vị, danh dự, tục lệ, tập quán, trí thức sai biệt, quan niệm bất động, biết bao rắc rối ấy xảy ra cùng trong một khoảnh khắc, ta cần sáng suốt khéo léo lắm mới chọn được ngay con đường thiện lương mà tác động cử chỉ thiện. Chậm chạp, mê muội, lừng chừng thì làm sao xử trí theo lẽ thiện cho kịp? “Thất nhất túc thành thiên cổ hận”, sai một ly đi một dặm, trong nháy mắt, có thể đó là thiện, có thể đó là ác rồi. Vậy thử hỏi anh chị em cứ ăn chay niệm Phật, mắt lúc nào cũng lim dim vẻ hiền từ, tâm lúc nào cũng tin có Trời Phật, mở miệng ra là lạy Thầy, Nam mô Phật, có thể nào đầy đủ sáng suốt, đầy đủ bản lĩnh để phán đoán thiện ác một cách cương quyết nhanh chóng được chăng? Hơn nữa, nếu tu như vậy thì vẫn là một  vật thụ động chịu áp lực chi phối của hoàn cảnh thế gian mãi, có đâu được tự tại cao siêu nỗi. Trong việc ứng tiếp với thế gian, người tín đồ còn cần phải phát huy đức tin thiêng liêng và nhân cách đạo đức của mình để hướng dẫn cảm hóa nhân sinh nữa kia mà. Làm sao hướng dẫn nỗi người ta, khi mình chỉ toàn bằng cứ vào đức tin cá nhân của mình trong khi người ta cần mình biện minh lẽ hay, lẽ phải của mình một cách đích xác, một cách phổ biến bằng lý trí tư duy. Có ngang trình độ trí thức học vấn, kinh nghiệm như người ta thì mới mong cảm hoá chinh phục chứ nếu mình lại kém thấp hơn người ta thì mong độ người ta sao được? Tôi vẫn biết tín ngưỡng đạo đức cho người ta một thứ tự ái, tự cao rất chính đáng, đó là động lực tăng tiến của người tín đồ, song cần phải làm sao cho xứng đáng với lòng tự cao tự quý của mình mới được chứ. Cứ cho rằng người khác là tầm thường, là người thế gian ô trược, còn nằm trong vô minh chưa giác ngộ, còn mình là cao khiết chỉ vì mình biết tin Trời Phật thì thật là quá nông nỗi. Ta cần phải tìm hiểu tại sao những người trí thức hơn ta lại không có đức tin như ta? Họ rất có lý lo chính đáng của họ. Vậy ta phải là hạng người thế nào để chinh phục được họ, chinh phục về đạo đức chưa đủ, cần phải chinh phục về lý trí nữa. Chúng ta tự phụ là con Trời, em Phật, thì chúng ta phải có cái gì chứng tỏ xuất sắc siêu việt hơn người ta mới được chứ. Buộc người ta tin một cách mơ hồ sao được, khi chính mình chẳng những không sáng suốt còn tỏ ra càng mơ hồ hơn người ta nữa.

Ấy vậy, người tín đồ rất cần phải cầu học, học đạo pháp (cũng như nhà Phật nói Phật pháp), học cả thế gian pháp nữa. Không cầu học cho thông suốt đạo lý thì không sao đủ đắc quả được. Người đi đường nếu không biết rõ trình độ của mình thì chẳng những không bao giờ đi đến mục đích, mà còn lầm đường lạc nẻo nữa. Người tu cũng vậy phải thông suốt giáo lý mới đạt mục đích. Ngoài ra, còn cầu học thế gian pháp để soi sáng đường tu, để xử thế tiếp vật một cách sáng suốt, để dẫn dắt mình và hướng dẫn người khác một cách chắc chắn trong muôn ngàn nẻo đường rắc rối của thế sự.

Cho nên, chúng ta cần phát động ngay trong tín đồ chúng ta một phong trào cầu học sôi nổi, cần mở ở các thất những lớp học giáo lý, học kinh sách, các lớp nghiên cứu học tập về khoa học, toán học, xã hội học v.v… Đồng thời, ta cần đả phá quan niệm sai lầm cho rằng chỉ cần tín ngưỡng, tụng kinh, lễ bái, ăn chay tu luyện hoặc bố thí lập âm đức là đủ. Phải diệt trừ các quan niệm có tính cách  “ngu tín đồ” ấy (cũng như người ta nói ngu dân).

Được như vậy,  chúng ta mới mong độ thoát linh hồn chúng ta, chúng ta mới khỏi hổ là  con Trời em Phật, chúng ta mới mong làm tròn sứ mệnh thiêng liêng tận độ kỳ ba mà Đức Chí Tôn đã giao phó.

(Bài đã đăng trong tạp chí Nhân Sinh số 2-3 ra ngày 15.11.1954)


0 Bình luận