Trung Thành Thánh Thất - Lịch sử và truyền thống - Sự hợp tác tình nghĩa Nam Trung
Đạo huynh Huệ Nhẫn – Văn Hóa Vụ CQPTGLĐĐ
(Trích đăng từ tập kỷ yếu “Đạo Mạch Lưu Thông” – Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài)
Hôm nay đã vào tiết Lập Hạ, chúng ta đồng tựu về Đà Nẵng, miền Trung đất Việt,
để dự cuộc lễ quan trọng của Hội Thánh Giáo Cao Đài, cũng là của toàn đạo, đó là lễ kỷ niệm 70 năm xây dựng Trung Thành Thánh thất, đồng thời kỷ niệm 70 năm Đại hội Long Vân đệ Bát kỳ. Chúng tôi gọi là quan trọng của toàn đạo, vì hai cuộc lễ song hành diễn ra vào năm Mậu Dần (1938) xưa kia thể hiện đặc biệt sự đoàn kết, yêu thương, hỗ trợ nhau của con cái Đức Chí Tôn hai miền Nam và Trung Việt, một truyền thống tốt đẹp mà chúng ta còn giữ đến nay, và mãi mãi về sau.
70 năm về trước, vào năm Mậu Dần (1938) ấy, tức là 12 năm sau khi Đại Đạo Khai
Minh, cơ Đạo ở miền Nam đã khá phát triển. Ngoài Tòa Thánh Tây Ninh cơ cấu đã vững vàng, Đạo luật năm Mậu Dần được ban hành. Các Hội Thánh khác như: Minh Chơn Lý bước qua Tam Tiểu thời kỳ; Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo làm lễ Thành Đạo; Hội Tiên Thiên ổn định tổ chức sau khi Ơn Trên ân phong Thánh Thất chính thức vào các phẩm chức sắc cao cấp Thượng Hội; Hội Thánh Minh Chơn Đạo tận cuối đất Việt Cà Mau đã hoàn tất việc sắp xếp tổ chức và nghiên cứu kinh lễ.
Trong khi đó, phải nói rằng, cơ Đạo ở miền Trung còn nhiều chật vật, mặc dù ngay
từ rằm tháng 10 Bính Dần, trong đêm đầu Lễ Khai Minh Đại Đạo tại chùa Gò Kén, sau khi giáng ban Pháp Chánh Truyền, Đức Chí Tôn đã cho lệnh chọn ngay 30 người tình nguyện đi phổ độ Trung Kỳ, Bắc kỳ. Thời gian 12 năm sau đó, rất nhiều hoạt động tích cực nhằm truyền đạo tại Trung Việt được tiến hành nhưng thành quả chưa như mong muốn.
Bước vào năm Mậu Dần (1938), có lẽ để bảo vệ những tược mầm mới bám rễ trên
đất miền Trung sắp sửa gặp những đợt phong ba, hay vì một lẽ huyền vi nào đó chúng ta không biết được, Đức Chí Tôn đã vận chuyển cơ Đạo một cách đặc biệt:
Cho thành lập Hội Thánh Trung Ương Trung Việt Tam Quang (Bình Định). Giữa năm Mậu Dần cụ Trương Ngọc Diêu (1885-1944), Quyền Đầu Sư Hội Thánh Minh Chơn Lý (Mỹ Tho) phát tâm xin Hội Thánh phổ độ miền Trung, cuối năm, cụ lập được ngôi Thánh thất ở An Thái, Bình Định (đến 1955 nơi đây nâng cấp lên thành Tiểu Tòa Thánh). Riêng ở Đà Nẵng, Đức Chí Tôn ban Thiên lệnh xây dựng Trung Thành Thánh thất, một cơ sở quan trọng cho việc thành lập Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài về sau. Nơi đây sẽ như một ngọn đuốc tinh thần để giữ lửa và tiếp lửa niềm tin cho bổn đạo trong những cơn bão táp mịt mùng sắp đến.
Để tiếp thêm nhiên liệu ban đầu cho ngọn đuốc này, Ơn Trên cùng lúc ấy sắc lệnh
cho Liên Hòa Tổng Hội thiết lập Long Vân đệ Bát kỳ, đồng thời điểm khánh thành ngôi Thánh thất Trung Thành.
Chúng ta sẽ lược qua tổ chức Liên Hòa Tổng Hội cùng các Hội Long Vân để có một
góc nhìn tổng quát hơn.
I. LIÊN HÒA TỔNG HỘI VÀ 12 CUỘC ĐẠI HỘI LONG VÂN
a. Sơ lược về Liên Hòa Tổng Hội
Liên Hòa Tổng Hội, là tên gọi tắt của Cao Đài Đại Đạo Liên Hòa Tổng Hội, là một
tổ chức do Ơn Trên dạy thành lập, kết hợp nhiều tổ chức khác (cũng do Ơn Trên dạy lập) như: Hội Trung Hòa, Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Liên Đoàn, Liên Hòa Hội, Đạo Đạo Liên Hòa, khởi từ các năm 1933 -1934 tại Thánh thất Cầu Kho và Trước Lý Minh Đài (xin mời đọc chi tiết nơi trang 577 quyển Sử Đạo 2 – Truyền Đạo).
Đến Đại Hội Long Vân đệ Tam tại Thánh tịnh Trước Mai (Cần Thơ) vào Rằm tháng
6 Bính Tý (1936), tên gọi Cao Đài Đại Đạo Liên Hòa Tổng Hội (CĐĐĐLHTH) đã được toàn thể nhất trí. Qua Đại Hội Long Vân lần thứ Tư tại Thánh Tịnh Ngọc Minh Đài (10 tháng Giêng, Đinh Sửu – 1937), Ban Trị sự Liên Hòa Tổng Hội được bầu chọn, gồm các vị:
- Nguyễn Phan Long: Tổng Trưởng
- Đoàn Văn Bản: Phó Tổng Trưởng
- Trần Quang Nghiêm: Phó Tổng Trưởng
- Trần Văn Quế: Tổng Thơ Ký
Danh sách chư nghị viên nhiệm kỳ đầu này bao gồm nhiều vị lãnh đạo các chi phái,
thân hào nhân sĩ đã nhập môn. (1)
Quan điểm chính của Liên Hòa Tổng Hội (LHTH) là gieo ý thức liên hòa, “không
phạm đến tôn chỉ của các chi phái, muốn giữ thái độ trung lập” (trích điều thứ 4, Hội Lệ LHTH). Chương trình hoạt động của Liên Hòa Tổng Hội chia làm 2 thời kỳ:
“Thời kỳ thứ Nhứt (…) C.Đ.Đ.Đ.L.H.T.H thừa Thiên Mạng mà ra đời, làm trung
gian cho các chi phái hàn gắn gây lại tình thân ái (…).
Thời kỳ thứ Nhì: khi các chi phái của đạo Cao Đài thật lòng hòa hiệp rồi thì
C.Đ.Đ.Đ.L.H.T.H sẽ giải tán (…)”.
Theo Thiên ý, để gieo ý thức “liên hòa”, Liên Hòa Tổng Hội sẽ xuất bản các tạp chí
(từ 1937 đến cuối năm 1940, Liên Hòa Tổng Hội đã xuất bản được 13 số Đại Đạo Quy Nguyên Lược Luận và tiếp đến là 20 số tạp chí Đại Đồng), cử người để thuyết trình các nơi cổ động khuynh hướng hòa ái của Đạo, nhưng hoạt động chính của Liên Hòa Tổng Hội là tổ chức 12 Hội Long Vân. Làm sao để qua 12 Hội Long Vân ấy, Liên Hòa Tổng Hội phải hoàn thành nhiệm vụ. Thực tế thì, Liên Hòa Tổng Hội đã tổ chức được 12 Hội Long Vân, nhưng việc phân lập giữa các chi phái vẫn còn, để rồi ngay sau đó, người tín đồ Cao Đài đã cùng toàn thể dân tộc Việt Nam bước vào vòng xoáy của cuộc Đại chiến thế giới lần II (1939-1945), và cuộc chiến giành độc lập của nước Việt, sau đó …
Liên Hòa Tổng Hội chưa hoàn thành được nhiệm vụ lớn nhưng đã gây được tiếng
vang và ảnh hưởng sâu rộng trong Đạo. Nhiều vị từng gắn bó với công việc của Liên Hòa Tổng Hội tiếp tục dành trọn tâm chí mình vào công cuộc này, trong đó nổi bật là Đạo trưởng Huệ Lương Trần Văn Quế của chúng ta. Nhờ tâm chí đó, Đạo Trưởng đã được Đức Chí Tôn khen tặng: “Mặc dầu chưa thành công nhưng chí đã thành.”
Xin trích một đoạn Sắc dụ Thầy ân phong cho Đạo trưởng đăng vị Quảng Đức
Chơn Tiên, như sau:
“(…) Nền Đạo chia bảy rẻ ba, tinh thần bên trong rạn nứt. Không lẽ ngồi nhìn đám
con nghịch lẫn nhau, Thầy thiết lập “Long Vân Đại Hội”, chuyển cơ quy nhứt để hàn gắn tình thương, sự sống và quyền pháp tôn chỉ Đạo Thầy.
Công hạnh ấy, tâm đức ấy, Huệ Lương Trần Văn Quế đã hy sinh đóng góp thật
nhiệt thành, bôn ba khắp nước, thiết tha với sự hòa hiệp, chí hướng ấy trọn đời ôm ấp để thực hiện hai chữ “Dung Hòa.” Mặc dầu chưa thành công nhưng ý chí đã thành (…).”
Sắc dụ của Thầy ban cho Đạo trưởng Huệ Lương cũng biểu thị tinh thần của Liên
Hòa Tổng Hội. Khi xưa, khi thiết lập 12 Hội Long Vân, Trung Thành Thánh thất đầy hữu duyên được Ơn Trên ban ơn thiết lễ Đại Hội Long Vân đệ Bát kỳ. Nhân đây xin ghi lại đầy đủ 12 Hội Long Vân ấy:
- Long Vân đệ Nhứt tổ chức tại Trước Lý Minh Đài (Phú Thọ, Gia Định), ngày
30.10 và 1,2/11/Ất Hợi (1935).
- Long Vân đệ Nhị tổ chức tại Thánh thất Thái Bửu Quang (Bạc Liêu) (Minh Chơn
Đạo) ngày 14,15,16/02/Bính Tý (1936).
- Long Vân đệ Tam tổ chức tại Thánh tịnh Trước Mai (Ô Môn, Cần Thơ) ngày
14,15,16/6/Bính Tý (1936).
- Long Vân đệ Tứ tổ chức tại Thánh tịnh Ngọc Minh Đài (Vĩnh Hội, Sài Gòn) ngày
10,11,12 tháng Giêng năm Đinh Sửu (1937).
- Long Vân đệ Ngũ tổ chức tại Thánh tịnh Minh Đức (Bến Sỏi, Tây Ninh), ngày
9/7/Đinh Sửu (1937).
- Long Vân đệ Lục tổ chức tại Ngọc Long Cung (Giá Rai, Bạc Liêu) (trùng dụng lễ
Lạc thành Thánh tịnh, chưa rõ ngày).
- Long Vân đệ Thất tổ chức tại Tòa Thánh Châu Minh (Tiên Thủy, Bến Tre) từ
ngày 10 đến Rằm tháng Chạp. Đinh Sửu (11 đến 16/01/1938).
- Long Vân đệ Bát tổ chức tại Trung Thành Thánh thất (Đà Nẵng) từ ngày 13,14 và
Rằm/4/Mậu Dần (1938), trùng dụng lễ Lạc thành Thánh thất.
- Long Vân đệ Cửu tổ chức tại Thánh tịnh Hắc Long Môn (Giá Rai, Bạc Liêu) vào
các ngày 7,8,9/02/Kỷ Mão (1939).
- Long Vân đệ Thập tổ chức tại Thánh tịnh Kim Thành Long (Chợ Gạo, Tân An)
các ngày 13, 14, 15/3/Kỷ Mão (1939).
- Long Vân đệ Thập Nhất tổ chức tại Thánh tịnh Tây Tông Vô Cực Cung (Bến
Tre) các ngày 21,22,23/11/ Kỷ Mão (1939).
- Long Vân đệ Thập Nhị tổ chức tại Thánh tịnh Minh Kiến Đài (Hạnh Thông Tây,
Gia Định) các ngày 27,28,29/3/ Canh Thìn (1940).
II. TRUNG THÀNH THÁNH THẤT VÀ LONG VÂN ĐỆ BÁT KỲ
Các chi tiết về việc xây dựng Trung Thành Thánh thất đã được nhiều tác giả ghi lại
đầy đủ, đặc biệt là tập Hồi ký của Đạo trưởng Thanh Long. Nên trong bài này, chúng tôi chỉ xin trình bày các phần việc liên quan đến chủ đề, đó là sự hợp tác của bổn đạo miền Nam và miền Trung trong việc xây dựng Trung Thành Thánh thất, một tiền đề quan trọng cho sự hợp tác đa dạng về sau.
- Từ trước năm Mậu Dần (1938), đã có nhiều Thánh giáo gợi ý về việc xây dựng
ngôi “Hưng Trung Thánh Tòa” với tầm vóc xứng đáng, biểu thị Thánh Thể Đức Chí Tôn vùng Trung Việt, nhiều phái đoàn chức sắc miền Nam ra Trung phụ lo cho đại cuộc “Hưng Trung”; quyển Hồi ký của Đạo trưởng Thanh Long đã ghi lại khá rõ các chuyến đi này. Ngược lại, chư vị có sứ mạng tại miền Trung cũng đã có nhiều chuyến vào Nam.
Xin đơn cử chuyến đi của các vị: Cụ Lê Trí Hiển (chủ Thánh thất Nam Trung Hòa), Ông Nguyễn Quang Châu (chủ Thánh thất Thanh Quang), Ông Nguyễn Văn Minh (còn gọi là Nguyễn Đán, Thánh danh Như Sơ), v.v.. Vào Nam, ngày 8/3/1937 (26/Giêng/Đinh Sửu), ba vị đến Trước Lý Minh Đài (Phú Thọ) và được chư vị Nguyễn Bửu Tài, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Đước, Đoàn Văn Bản, v.v, đại diện Liên Hòa Tổng Hội tiếp đón niềm nở.
Tối hôm ấy, đàn cơ tại Trước Lý, Đức Lý Thái Bạch giáng dạy, có đoạn:
“Đạo nơi Nam tuy chưa được hoàn toàn về cơ chỉnh lập, nhưng thế cũng gọi được
thành. Còn về Trung Bắc là hai nơi cội cả của dân Hồng, bước đạo mới, bước đầu phôi thai mối Đạo nên chúng dân còn lắm hoài nghi, khen chê, không hoàn toàn phân biện về ý kiến, mà lại thêm dưới quyền pháp luật gây trở. Còn đối với Bần Đạo thì việc ấy dường không, nhưng muốn cho chư Thiên ân lập công quả, thì trước (nơi) đây Bần Đạo cậy trong chư Thiên ân là: Long, Tài, Quế, Đước, cộng đồng tinh thần ý kiến mà trang trải về đường pháp luật cho xong, đặng giúp đồng bào trong cơ Đạo bước đầu khởi mở nơi Trung vậy.
Trước (mặt) đây, Bần Đạo chứng kiến cho Hiển, Bang, Phi, Sơ, Khai bắt tay cùng
chư Thiên ân kết tình liên hòa mà chống vững cơ Đạo từ đây.” (2)
- Bổn đạo miền Trung lúc này thực tế không nhiều người khá giả, miền Nam lại
đang bước vào cuộc suy thoái kinh tế. Việc xây dựng một Thánh đường tại miền Trung cũng rất cấp thiết cho cơ Đạo tại đây, có lẽ do còn nhiều trở ngại như vậy, nên Ơn Trên đã sắp xếp lại quy mô xây dựng ngôi Thánh sở.
Cuối mùa Thu năm Đinh Sửu (1937), Ngài Chưởng pháp Trần Đạo Quang ra Trung
lần nữa, trong một buổi hầu đàn tại Thánh tịnh Thanh Quang, Đức Lý Giáo Tông giáng dạy về vấn đề này, Đạo trưởng Thanh Long ghi trong Hồi Ký (trang 222) như sau:
“Đàn cơ tại Thánh Tịnh Thanh Quang, Đức Lý Giáo Tông đến, tôi còn nhớ đại ý
Ngài dạy: Việc cổ động xây dựng “Hưng Trung Thánh Tòa” để các hướng đạo Nam và Trung ý thức được sự trọng đại của cơ truyền giáo Bắc Trung và xương minh sứ mạng Trung Hưng trong thời mạt pháp. Công cuộc xây dựng to tát ấy còn phải mất thời gian, phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, nay chuyển Đức Ngọc Chưởng pháp ra Trung để chủ trì, hợp sức cùng cụ Lê Trí Hiển cùng quí vị hướng đạo miền Trung gấp xây dựng Thánh sở tạm thời thay cho “Hưng Trung Thánh Tòa”, để kịp năm Dần chính thức công khai hình thành tổ chức Giáo Hội tại Miền Trung, và kịp đáp ứng với hoàn cảnh. Thánh sở ấy Ngài cho tên là Trung Thành Thánh thất (…) và Ngài khuyên là hãy chọn địa điểm ở Tourane”.
Vậy là, chư vị xúc tiến ngay việc tìm mua đất và xây dựng nên ngôi Trung Thành
Thánh thất tạm. Mọi việc tiến hành tốt đẹp, đầu tháng Chạp năm Đinh Sửu (1937), bổn đạo cử hành lễ An vị Thánh thất tạm. Ngài Ngọc Chưởng Pháp về ngụ tại đây. Ngài lập tức tiến hành thủ tục xây dựng chính thức Trung Thành Thánh thất đúng theo pháp Đạo, có đủ tam đài (Bát Quái, Cửu Trùng, Hiệp Thiên).
- Đầu năm Mậu Dần (1938), việc xin phép xây dựng Thánh thất gặp nhiều trở ngại.
Ngài Ngọc Chưởng Pháp cùng chư hướng đạo Trung Kỳ đang lo âu, bất ngờ, ngày
26/02/Mậu Dần, chư vị nhận được Thánh lệnh từ miền Nam chuyển ra, theo đó Trung Thành Thánh Thất phải hoàn thành kịp ngày mồng 8 tháng 4 khánh thành, đồng thời thiết Đại hội Long Vân đệ Bát. (3)
Có lệnh Ơn Trên chắc chắn mọi trở ngại sẽ được hóa giải. Đúng vậy, chỉ vài ngày
sau, các vị nhận được tin Ngài Lê Kim Tỵ sẽ ra Trung để giải quyết hai việc: xin phép xây dựng và trực tiếp chỉ huy xây cất Thánh thất Trung Thành.
Ngày mồng 3 tháng 3, Ngài Lê Kim Tỵ ra đến Tourane (tên người Pháp gọi nhượng
địa Đà Nẵng). Mồng 7, ngài lên đường ra Hà Nội, đến sáng ngày 12 giấy phép xây cất được giải quyết. Tuy vậy, tính theo lệnh dạy của Đức Chí Tôn, thời gian còn lại không được bao nhiêu.
Nói đến vấn đề thời gian, lại có một sự kiện đặc biệt khác vào lúc ấy.
Đếm mồng 10 tháng 3 Mậu Dần, trong lúc ngài Lê Kim Tỵ còn đang vận động ở Hà
Nội, chư vị ở Đà Nẵng nhận lịnh Đức Lý lập đàn tại Trung Thành Thánh thất tạm. Nhị vị Thanh Long, Bạch Hổ phò loan, cụ Trần Công Ban pháp đàn, Đức Chí Tôn giáng dạy thay đổi ngày khánh thành và sắp đặt nhiều chi tiết trong nội điện Thánh Thất. (4)
“Ngày Thượng lương Thầy đổi lại 14, các con Ban Trị Sự giờ đó phải đại lễ nghe
…”
Cũng chính hôm ấy, Đức Chí Tôn đã ban huyền diệu: “Carlos, con ra phía sau nhà
này, nơi rui, lấy mồi lửa và phong thơ kẻo cháy nhà đi con; đem đây Thầy sẽ họa vận bài thi theo ý hỏi.”
Trở về Đà Nẵng ngày Rằm tháng Ba, ngay hôm ấy, ngài Lê Kim Tỵ xin mời họp
toàn ban tạo tác, gấp rút tiến hành xây dựng, thời gian còn lại chưa được 1 tháng ( tháng ba lại là tháng thiếu). Và, việc xây dựng Trung Thành Thánh thất đã được thực hiện tốt đẹp đúng theo thời hạn Đức Chí Tôn đã định:
- Giờ Ngọ ngày 13/4, Khai mạc Đại Hội Long Vân đệ Bát kỳ.
- Giờ Mẹo ngày 14/4, Đại lễ khánh thành Trung Thành Thánh Thất.
Cuộc lễ tiếp tục đến giờ Ngọ ngày 16/4 bế mạc. Ngày 17, bổn đạo miền Nam giã từ
về Sài Gòn. (5)
- Đến nay, với những tư liệu hiếm hoi còn lại, xin ghi lại đây một vài sự việc biểu
thị sự hòa đồng hợp tác của bổn đạo Nam Trung:
Trong khi quý vị Hướng Đạo cùng đông đảo đạo tâm nam nữ miền Trung tích cực
đóng góp tiền bạc, vật liệu và công sức của mình để tập trung xây dựng ngôi Trung
Thành Thánh thất, thì ở miền Nam, chức sắc và bổn đạo các Hội Thánh như Minh Chơn Đạo (Cà Mau), Tiên Thiên (Bến Tre), v.v…, cùng các Thánh thất độc lập (Cầu Kho, Trước Lý Minh Đài v.v…) có nhiều quan tâm hỗ trợ, đặc biệt trong đó Liên Hòa Tổng Hội với phương tiện ngôn luận là tạp chí Đại Đạo Quy Nguyên Lược Luận (ĐĐQNLL) đã rất tích cực tuyên truyền công quả góp sức của các địa phương kể trên với đạo hữu miền Trung. Xin ghi lại đây một số bài báo, tiêu biểu như sau:
1. Tạp chí ĐĐQNLL, số 2, trong bài “Cơ Quy Nhứt”. tr.10 có đoạn: “Sau khi bế
mạc Long Vân đệ Tứ kỳ (10 tháng Giêng Đinh Sửu – 1937- HN) rồi thì ngoài Trung kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, phủ Điện Bàn, chư quý huynh Hướng đạo nơi ấy và quý ngài: Lê Trí Hiển (Hồng Lô Tự Khanh), Nguyễn Quang Châu và nhiều vị nữa có đặng lịnh Trên vào Nam kết tình thân ái đồng đạo với Bàn Trị Sự CĐĐĐLHTH. Cuộc tiếp rước chư quý huynh kể trên đây rất là long trọng tại Thánh tịnh Trước Lý Minh Đài đêm 26 tháng Giêng năm Đại Đạo thức 12 (Đinh Sửu) (08/03/1937 - HN)”
Cuộc tương ngộ này đã được đề cập ở phần trình bày trước.
2. Tạo chí ĐĐQNLL số 9, trang 21, có bài “Liên Hòa Tổng Hội – Long Vân Đệ
Bát” có đoạn: “Vưng lịnh Đức Chí Tôn tại Thiện Đức Đàn Bạc Liêu khai hội Long Vân đệ Bát kỳ tại Tourane ngày mùng 8, 9 ,10 tháng Tư An Nam, nhằm ngày 7, 8, 9 tháng 5 Tây 1938, (6) đặng có minh đạo Trời tại Trung Châu (Trung kỳ) (…). Muốn cuộc mở mang lằn Đạo ở ngoài cho được hoạt bát nên Ơn Trên có dạy phải tạo thành một cái “Thánh Tòa” kêu là “Nam Trung Hòa Thất” (7) ở tại Tourane, là nơi ngày Chưởng Pháp Trần Đạo Quang đã mua được một miếng đất và đã xin phép cất Tòa Thánh rồi (…)
Anh chị em trong Nam cũng biết rằng: anh em ở ngoài thật là rất khiếm khuyết về lý tài thì làm sao mà gầy dựng được nên một cái “Tòa Thánh” (…) song anh em chị em ở Trung có cái “tâm nhiệt liệt” và cái “huyết chí thành” nên về công quả khỏi lo, nhưng “hữu tâm” mà “vô sản” cũng khó gầy cuộc lớn lao trong buổi nầy. Bàn Trị Sự Liên Hòa Tổng Hội đứng trước một hoàn cảnh rất khó khăn, một là am hiểu nổi khổ tâm của anh em ở Trung và cái đường trở ngại lý tài của Liên Hòa … Mặc dầu thế, Liên Hòa Tổng Hội không có thể khỏa lấp được cái nỗi thương tâm ấy, vì dẫu eo hẹp vì lý tài cũng còn tinh thần, nên cả kêu các bạn đồng chí nào là người hào phú, kẻ hữu tâm, kẻ ít người nhiều đâu đậu, quyết dựng nên cái “Tòa Thánh” ở tại Trung Châu.”
Kèm dưới lời kêu gọi của cụ Nguyễn Phan Long này là địa chỉ nhận tiền chung góp:
Thủ bổn Liên Hòa Tổng Hội. (8)
3. Tạp chí ĐĐQNLL, số 10, có đăng 2 bài liên quan đến Trung Thành Thánh thất:
- Trang 37, tựa bài: “Công quả tạo tác Trung Thành Thánh Thất”, với lời kêu gọi
công quả của “Bàn Tiên Thiên Chưởng quản”, có đoạn như sau: “(…) Chúng tôi định rằng mỗi đồng chí Tiên Thiên phải chuộc công quả ít nữa là 5 ngày (…).” Số tiền thu được sẽ tập trung về Liên Hòa Tổng Hội để chuyển ra Đà Nẵng. Lời kêu gọi ghi ngày 27/02 Mậu Dần, tức là ngay sau khi có lịnh Đức Chí Tôn (lần 1) ấn định ngày mồng 8 khánh thành Trung Thành Thánh thất.
Tiếp sau lời kêu gọi công quả của Hội Thánh Tiên Thiên là “lời nói thêm” của cụ
Phan Trường Mạnh cầu mong Ơn Trên “ban ơn lành, bố đức rộng cho anh chị em trong Nam phát bồ đề tâm, mở đức lành chiếu cố đến anh em ngoài Trung thì là điều hạnh phúc cho nhơn sanh, cho toàn đạo.”
- Trang 29, tựa bài báo “Cách đi dự Long Vân đệ Bát kỳ”:
Ngày 29/02/Mậu Dần, Ngài Nguyễn Thế Hiển (Ngọc Chưởng Pháp Tiên Thiên)
đề nghị tổ chức chuyến đi dự lễ khánh thành Trung Thành Thánh Thất và dự Long Vân đệ Bát. “Cuộc hành trình mất hết 6 ngày, tiền sở phí xe khứ hồi, ăn uống, tất cả là 10 đồng (…). Nếu còn dư chút ít xin cúng cho Thánh thất sở tại gọi là tỏ chút lòng vì Thầy vì Đạo của anh chị em.” (9)
Cụ Nguyễn Văn Phùng (Thánh thất Cầu Kho) lúc này đang là trưởng ga xe lửa
Saigon sẽ sắp xếp toa xe riêng chở bổn đạo đi và về.
Có điều, ngày nay khi đọc lại hai bài báo trên, nếu chú ý, chúng ta sẽ thấy ngày
Hội Thánh Tiên Thiên kêu gọi công quả là 27/02/Mậu Dần, và ngày tổ chức chuyến đi Đà Nẵng dự lễ là 28/02/Mậu Dần (xin xem bản chụp). Hai ngày này được phát động trước khi khởi công xây dựng Trung Thành Thánh thất (Rằm tháng 3), điều này nói lên tinh thần tích cực ủng hộ cuộc lễ, là đúng rồi. Tuy nhiên, xét kỹ ta thấy thời điểm ấy trước luôn cả Thánh giáo của Đức Chí Tôn (10/3/Mậu Dần) định lại ngày khánh thành (là 14/4); trong khi ngày giờ trong bài báo đều ghi rõ là cuộc lễ tại Trung Thành Thánh thất sẽ diễn ra từ 13 đến 16 tháng 4 Mậu Dần. Các sự chênh lệch này có thể lý giải là do khi chuẩn bị in tập san số 10 này, tin tức về Thánh lệnh đổi ngày khánh thành đã đến với tòa soạn, chư vị có trách nhiệm chắc chắn đã hội ý với nhau và kịp thời sửa chữa lại ngày giờ theo Thánh lệnh trong các bài báo nói trên.
4. Tạp chí ĐĐQNLL, quyển 11, trong tổng số 41 trang có tất cả 14 trang báo liên
quan đến Trung Thành Thánh thất, chia thành 2 bài.
- Bài thứ nhất, trang 23, đăng trọn Thánh giáo Đức Chí Tôn đêm 10/3/Mậu Dần
cho lấy mồi lửa “thử thất” và dạy đổi ngày khánh thành. Cuối bài báo này là bức thơ của Ban Trị Sự Trung Thành Thánh Thất gởi cho tạp chí ĐĐQNLL nói về những sự kiện trên.
- Bài thứ nhì: “Long Vân đệ Bát kỳ thuật trần” nơi trang 31 (đã đề cập ở phần
trước, trang 6, ghi chú số 6), tường thuật khá chi tiết diễn tiến cuộc lễ khánh thành Thánh thất và đại hội Long Vân đệ Bát, để lại tư liệu quý giá cho Trung Thành nói riêng và toàn đạo Cao Đài nói chung. Bài báo nêu bật tinh thần tương thân hòa ái của đồng đạo Nam – Trung qua cuộc lễ với lời kết luận: “Sự đưa đón anh chị em trong Đạo ở ngoài Trung, để một mối cảm tình rất nồng nàn với anh chị em trong Nam. Đón từ khoảng đường mà đưa, chạy theo xe mà đổ lụy, đi bộ cả mấy chục ngàn thước, để hanh tâm mà rước mấy anh chị em trong Nam, còn cái chi mà làm cảm động lòng người hơn nữa.”
Phần kế tiếp, bài báo đăng trọn Thánh giáo của Đức Lý Đại Tiên Trưởng dạy
trước khi bế mạc Đại Hội, trong đó phần thi bài hết sức đặc biệt: “Khoán thủ, lục chuyển, thất trùng, bát tiếp, hồi văn”. Từ một bài “song thất lục bát” trở thành một bài “Đường thi” mà có lẽ chỉ có Đức Lý Đại Tiên mới làm được mà thôi.
Kế tiếp lại là một trang kỷ niệm. “Danh sách anh chị em đậu tiền đi hội Long Vân
đệ Bát tại Đà Nẵng thành”. Danh sách có lẽ thiếu một số vị, nhưng đã ghi lại chính xác số người lên xe lửa ra Đà Nẵng dự lễ, số tiền chung góp, các lễ phẩm, v.v…, làm bằng chứng ghi lại tình đạo Nam – Trung. (10)
III. TẠM KẾT
12 năm sau khi Đại Đạo Khai Minh, năm Mậu Dần (1938) là một cột mốc thời
gian đặc biệt với cơ Đạo miền Trung: Hội Thánh Trung Ương Trung Việt Tam Quan làm đại lễ Hoát khai vào Rằm tháng 02; Hội Thánh Minh Chơn Lý lập Thánh thất tại An Thái, Bình Định; riêng Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài tuy chưa thành lập, nhưng việc khánh thành Trung Thành Thánh Thất ngày 14 tháng 4 đã chính thức khẳng định cơ Đạo Hưng Trung.
Ngày nay, nhìn lại công cuộc xây dựng Trung Thành Thánh Thất, nếu chỉ nhìn
đơn thuần về sự việc qua con số, qua ngày tháng xây dựng quá gấp gáp, v.v…, người đời thường chắc sẽ không hiểu tại sao. Thế nhưng, là người Cao Đài, có lẽ tất cả chúng ta đều cùng đồng ý rằng cơ Trời còn nhiều huyền nhiệm, con người không thể hiểu rõ được. Khi Ơn Trên ra lệnh vào ngày đó, giờ đó làm lễ khánh thành, chúng ta đồng bổn đạo với nhau, không phân biệt Nam – Trung cùng lao vào công việc làm đúng theo Thiên ý. Khi xưa cũng vậy, mà ngày nay cũng vậy, chúng ta không hề thắc mắc rằng sao phải làm gấp vậy, sao phải khánh thành vào ngày đó … Chúng ta cũng có một điểm giống nhau to lớn nhất: Đặt trọn niềm tin nơi Đức Chí Tôn và Đại Đạo. Chắc chắn là nhờ vào hai chữ niềm tin hay đức tin. Đức tin đó biến thành tấm lòng thành kỉnh của chúng ta đối với Ơn Trên. Đức tin đó cũng biến thành tấm lòng thương mến của người Đạo chúng ta với nhau. Và từ đức tin đó, tấm lòng đó, biến thành hành động. Người Cao Đài đã xây dựng được hàng trăm Thánh thất, Thánh tịnh từ Nam ra Trung, Bắc, các Thánh thất Thánh tịnh ấy dù đơn sơ, có nơi chỉ là tre lợp lá, có nơi biến cải từ một tư gia, nhưng mỗi nơi đều được Ơn Trên đặt tên, chọn ngày xây dựng, khánh thành … Đó là một ơn phước rất lớn mà người Cao Đài chúng ta được thọ hưởng. Các Thánh thất Thánh tịnh ấy chính là “Thánh thể của Đức Chí Tôn tại thế”, nơi Ơn Trên dùng làm trung tâm thần lực (Thánh giáo Minh Lý Thánh Hội gọi là: Thiên Xu Hoàng Cực) để bảo vệ Đạo, bảo vệ con cái của Đức Chí Tôn.
Rõ ràng là từ năm 1939, mọi sự việc đều biến động, người đạo Cao Đài từ Nam ra
Trung đều gặp quá nhiều khảo thí. Còn ở thế giới Hậu Thiên này phải chịu vậy, nhưng chúng ta đều vững tin rằng không có chơn linh con cái nào của Đức Chí Tôn bị bỏ quên…
Cuối cùng, không thể không nhắc lại một lần nữa Đạo trưởng Huệ Lương Trần
Văn Quế, một người miền Nam nhưng hữu duyên với cơ Đạo miền Trung. Trong cuộc hội thảo chủ đề “Đạo Trưởng Huệ Lương Trần Văn Quế - cuộc đời và đạo nghiệp” được tổ chức tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo tháng 10 năm Đinh Hợi vừa qua, Đạo trưởng Phối Sư Thượng Hậu Thanh, đại diện Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài trong tham luận của mình, đã lược thuật đầy đủ quá trình từ thuở Đạo Trưởng Huệ Lương khoảng 30 tuổi đến lúc cuối đời đã luôn gắn bó với sứ mạng Trung Hưng. Điều đạo đệ cảm nhận qua cuộc hội thảo ấy là, Đạo Trưởng Huệ Lương tích cực hành đạo tại Hội Thánh Minh Lý, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý và nhiều nơi khác hoàn toàn không vì danh lợi, không mưu cầu chức vụ Chủ Trưởng Hội Thánh hay quyền hạn gì khác, Đạo trưởng hành đạo các nơi một cách vô tư, tự nhiên như việc phải làm với trọn lòng thành tín. Trong sắc lịnh ân phong Tiên vị Quảng Đức Chơn Tiên cho Ngài, Đức Chí Tôn biểu dương, có câu: “Huệ Lương Trần Văn Quế đã hy sinh đóng góp thật nhiệt thành, bôn ba khắp nước, thiết tha với sự hòa hiệp, chí hướng ấy trọn đời ôm ấp để thực hiện hai chữ Dung Hòa”.
Đạo Trưởng Huệ Lương là một gương mẫu cho sự nhiệt thành, hòa hiệp, đặc biệt
là sự hòa hiệp Nam – Trung.
Chúng ta sẽ cố gắng kế tục sự nghiệp “Hòa hiệp” ấy và truyền thừa tinh thần này
cho hàng đàn em kế tiếp.
Phần phụ chú:
(1). Ảnh chụp danh sách (đăng trong tạp chí ĐĐQNLL số 9, tr.23) (ảnh 2). Ảnh
chư vị Bàn Trị Sự LHTH chụp trước Thánh thất Cầu Kho (ảnh 4).
(2). Bài báo “Nam Trung Liên Lạc” đăng trong Tạp chí Quy Nguyên Lược Luận,
số 2, trang 31. Đàn tái cầu hôm ấy, Đức Chí Tôn giáng, đăng trong ĐĐQNLL số 9.
(3). Thánh lệnh được Đức Chí Tôn truyền tại Thiện Đức Đàn (Bạc Liêu). Do Ngài
Trần Văn Quế trao tận tay đồng tử Thanh Long tại ga Sài Gòn, trước khi bước lên xe lửa về Đà Nẵng, lúc 7 giờ tối ngày 25/02/Mậu Dần.
(4). Trọn bài Thánh giáo đêm 10/3/Mậu Dần, và bức thơ của Ban Cai Quản Trung
Thành Thánh Thất gởi cho tòa soạn tạp chí Đại Đạo Quy Nguyên, đăng nơi trang 22 tạp chí Đại Đạo Quy Nguyên số 11.
(5). Diễn tiến 4 ngày Đại lễ khánh thành Trung Thành Thánh Thất đã được tường
thuật khá chi tiết trong Tạp chí Đại Đạo Quy Nguyên Lược Luận, số 11, trang 31.
(6). Tạp chí ĐĐQN số 10, trang 37, đã có thông báo sửa lại thành các ngày 13, 14
và rằm tháng 4 theo lệnh mới của Đức Chí Tôn ban tại Trung Thành Thánh Thất.
(7). Đúng ra phải là “Trung Thành Thánh Thất”, “Nam Trung Hòa Thất” đã
được thành lập từ năm 1936 tại nhà cụ Lê Trí Hiển ở Điện Bàn, Quảng Nam.
(8). Toàn văn bài báo này được chụp lại (ảnh 3).
(9). Toàn văn bài này được chụp lại (ảnh 3).
(10). Danh sách này được chụp lại (ảnh 3).
Tên chư vị nghị viên của Cao Đài Đại Đạo Liên hòa Tổng hội:
1. Trần Đạo Quang, Chưởng pháp
2. Nguyễn Phan Long, Nghị viên hội đồng quản hạt (Conseiller colonial)
3. Cao Triều Phát, cựu nghị viên hội đồng quản hạt (ex-Conseiller colonial)
4. Vương Quan Kỳ, Đốc phủ sứ hồi hưu
5. Đoàn Văn Bản, Đốc học tri huyện
6. Hồ Vinh Qui, cựu thông phán
7. Trương Vĩnh Qui, điền chủ, cựu Cai tổng
8. Nguyễn Tấn Hoài, cựu hội đồng quản hạt (ex-Conseiller colonial)
9. Nguyễn Bửu Tài, Cựu đốc học
10. Nguyễn Thế Hiển, Cựu hội đồng địa hạt (ex-Conseiller provincial)
11. Nguyễn Văn Ngàn, cựu thừa biện ký lục
12. Nguyễn Văn Phước, cựu cai tổng
13. Cao Triều Trực, Điền chủ Huyện hàm
14. Trương Như Mậu, Cựu hội đồng địa hạt (ex-Conseiller provincial)
15. Nguyễn Văn Liểng, Thừa biên
16. Nguyễn Văn Đước, Tri huyện
17. Trần Lợi, Huyện hàm
18. Đoàn Văn Chiêu, Cựu ban biện
19. Phan Văn Thiệu, Điền chủ
20. Nguyễn Phú Thứ, Cựu hội đồng
21. Huỳnh Thiện Nguyện, Cựu thông phán, huyện hàm
22. Trần Văn Quế, Đốc học
23. Phan Tường Thọ, Huyện hàm
24. Võ Văn Tường, cựu thông phán
25. Nguyễn Văn Mùi, Cựu kinh lý sở khâm đạt
26. Phan Văn Tòng, Điền chủ
27. Lâm Quang Tỹ, Nghiệp chủ
28. Nguyễn Văn Đối, thông phán
29. Phan Trường Mạnh, cựu thơ ký
30. Phan Văn Thanh, thơ ký
31. Lê Văn Lịch, chủ Thánh thất
32. Lê Văn Kinh, chủ Thánh thất
33. Phạm Văn Long, Thông phán
34. Lương Văn Giãn, Cựu hội đồng
35. Mai Hữu Chi, Thông phán
36. Phan Văn Nhiệm, cựu thơ ký
37. Lê Tư Thảo, Cựu hộ trưởng
38. Huỳnh Trung Tuất, Hộ trưởng đương niên
39. Trương Kế An, Lương y bổn quốc
40. Huỳnh Trung Nguyên, Điền chủ
41. Trần Cảnh, điền chủ
42. Mai Văn Tam, Điền chủ
43. Kiều Văn Thệ, chủ Thánh thất
44. Trần Văn Tri, Điền chủ
45. Dương Văn Lê, chủ Thánh thất
46. Trần Quan Nghiêm, Cựu trưởng tòa (ex-buiasier)
47. Lê Văn Sanh, Thương gia
48. Cao Triều Hưng, Điền chủ, phủ hàm
49. Huỳnh Ngọc Duy, điền chủ
50. Huỳnh Văn Hải, điền chủ
51. Huỳnh Trung Nguyên, chủ nhà máy
52. Huỳnh Văn Tố, điền chủ
53. Huỳnh Văn Hay, chủ nhà máy
54. Phan Lương Thiệu, Điền chủ
55. Phan Lương Hiền, nghiệp chủ.

0 Bình luận