SƠ LƯỢC VỀ TƯƠNG QUAN

 GIỮA ĐẠO CAO ĐÀI VÀ MINH LÝ

Đạo Trưởng ĐẠI BÁC (Minh Lý Thánh Hội)

          Sự tương quan giữa Đạo Cao Đài và Minh Lý đã có từ lúc ban đầu khi Ơn Trên khai mở mối Đạo Trời tại Việt Nam. Qua Cơ bút, Đức Thái Thượng Lão Quân thừa lệnh Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, ban cho Đạo hiệu Minh Lý vào giờ Tý, khuya ngày 26 rạng 27 tháng 11, năm Giáp Tý. Ngày 27 là ngày Tý, tháng 11 cũng là tháng Tý. Đây là thời điểm khởi sự một chu kỳ mới của Vũ Trụ rất có ý nghĩa. Theo dương lịch, đó là ngày 22 tháng 12 năm 1924, chính là ngày Đông Chí, màn đêm dài của mùa đông lạnh bắt đầu rút ngắn lại, ngày bắt đầu dài ra, để có thêm ánh sáng cho thế gian. Theo âm lịch, tháng 11 tương ứng với quẻ Phục, trong đó có Nhứt Dương sanh. Quẻ này có ý nghĩa về Đạo Pháp trong việc tu luyện.

            Trong những năm đầu khai Đạo, Chư Phật Tiên Thánh Thần đã ban cho Minh Lý các bộ Kinh Bố Cáo, Nhựt Tụng, Sám Hối, Giác Thế và Tịnh Nghiệp Vãn. Vào khoảng năm 1926, Ơn Trên dạy các đạo hữu Minh Lý chuẩn bị sẵn sàng các bộ kinh và tổ chức lễ tiếp đón một phái đoàn đến thỉnh. Quả thật, đến ngày đó có phái đoàn các vị đệ tử Cao Đài đến thỉnh Kinh. Chư Tiền khai Đạo Cao Đài đã chọn một số bài Kinh bên Minh Lý để tụng đọc cùng với những bài Kinh có nguồn gốc khác.

            Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, vào tháng 7/1927, Đức Lê Văn Trung có dự Minh Lý Đàn tại Tam Tông Miếu ở Sài Gòn và Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương có dạy:

            “…Thầy có hội chư Tiên Phật lại mà thương nghị về sự lập Đạo tại Đại Nam Việt Quốc. … Tuy bây giờ phân chia nhiều nhánh, nhiều chi, chớ ngày sau cũng có Một mà thôi. … Thầy xin lập Tiểu Đàn này là Thầy biết có con đến đó Trung, con khá nhớ những lời Thầy đã dạy: Con phải nên trợ giúp Minh Lý cho nên việc, nghe há! Có nhiều đạo cũng như cất nhà phải có nhờ nào là: cột cái, cột con, đòn tay, kèo, rui. Rui tuy nhỏ, mỏng manh hơn hết, mà cũng nhờ nó. Tuy là kể cho nhiều tên, chớ cất rồi thì có một Chủ ở mà làm chủ đó thôi. … Bên Minh Lý đây là Séminaire, là chỗ các thầy tu, ngày sau độ về phần linh hồn đó con”.

            Ngày mồng 9 tháng 5, Mậu Dần (tức ngày 6 tháng 6 năm 1938), Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có giáng đàn tại Tam Tông Miếu và dạy chư Tiền khai Minh Lý mời Ông Trần Văn Quế bên đạo Cao Đài về giúp trong chức vụ Thư ký Bình Nghị Thất. Đặc biệt năm này cũng là năm đạo Cao Đài được công khai tại miền Trung Việt Nam.

            Vào cuối năm 1940, Ơn Trên báo trước sắp bế cơ tại Minh Lý và có dạy chư Chức sắc cùng đạo hữu cố gắng nghiên cứu kinh sách xưa và lo tu học. Ơn trên cũng cho biết nếu sau này có tiến bộ thì Ơn Trên sẽ tái lập cơ bút. Quả Thật, đầu năm 1941, vị đồng tử Âu Minh Chánh qui tiên nên cơ bút chấm dứt. Sau đó, với một đức tin mãnh liệt và một lòng lo tu học, Đức Nguyễn Minh Thiện đã từ quan để vào Chùa giữ chức Chủ Trì lo cho cơ Đạo. Vào khoảng 1954, Ngài có thành lập một Thiền Thất tại Phú Nhuận để tu luyện. Đạo Trưởng Huệ Lương Trần Văn Quế vẫn hợp tác tham gia đạo sự và dự các thời tịnh bên Minh Lý.

            Đạo Trưởng đã tiếp đón Đức Minh Thiện và vị Giáo chủ Đạo Oomoto nhân dịp Lễ Khánh thành Trung Hưng Bửu Tòa tại Đà Nẵng vào ngày 01 tháng 06 Bính Thân 1956, cũng là ngày thành lập Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài.

            Năm 1965, vị đồng tử của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài là Đạo Trưởng Liên Hoa, theo một Thánh Lệnh của Ơn Trên dạy đã đến Tam Tông Miếu ở Sài Gòn để nghiên cứu thêm Dịch Lý và làm đồng tử cho Minh Lý. Như vậy sau 24 năm dài, lời hứa của Ơn Trên từ năm 1941 đã được thực hiện. Trong đàn ngày 29 tháng 7 năm 1965 tại Tam Tông Miếu, Đức Thái Thượng Lão Quân có dạy:

            “Hôm nay Bần Đạo đến để chứng minh ngày “khai cơ giáo pháp” cho công cuộc phục hưng Đại Đạo và mở rộng sự cứu chuộc của môn sanh. Thiệt là một sự hi hữu! Các đệ tử hết sức cố gắng lập công kỳ này, để được nhận những phần thưởng xứng đáng mà Thượng Đế Chí Tôn sẽ trao ban cho nền Minh Lý.

            Vì lẽ đòi hỏi khẩn trương của cơ Đạo mà Bần Đạo đã xin Vô Lượng Thọ Quang Như Lai chuyển Liên Hoa về đây, mở các thời pháp cho nền Minh Lý đạo để hoàn thành nhiệm vụ của mình”.

            Trong đàn ngày 6 tháng 8 năm 1967 tại Minh Lý Thánh Hội, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có nhắc lại về sự tương quan giữa Cao Đài và Minh Lý:

            “…Cũng trong khoảng nầy, vào tháng 7/1927, tại đây Thầy đã dặn các con: giữa hai bên Tam Kỳ và Minh Lý phải tương trợ lẫn nhau. Thầy đã đặt để trước khi Thầy lâm trần mở Đạo, chia cho mỗi con một phần sứ mạng:

            Phần “Tận độ” Thầy đã hình hiện khắp nơi, về sâu lẫn rộng;

            Còn phần “Bí pháp” Thầy lại trao tay cho Minh Lý.

            Vậy các con còn nhớ đàn ngày ấy Thầy bảo Trung phải giúp cho Minh Lý thành công, mà ấn định nơi Minh Lý lo phần Đạo, qui tụ các phần tu sĩ đi sâu vào bản thể Nhứt như. Vì vậy chủ đích đặt nơi Minh Lý nầy lập nền “vô vi Đại Đạo”, ngôi Chí Tôn cực trọng lấy Vô Cực làm mục đích cứu cánh. Đó là thể tịnh, tự thể tịch nhiên.

            Sau này các con sẽ hiểu hai phần tương quan gọi Vô Cực hay Thái Cực cũng là Một mà thôi … Quế, con còn nhớ đoạn Thánh giáo đó không?

            Huệ Lương bạch: …

            Hôm nay Trung qua đời, thì nhiệm vụ này Thầy định gắn cho con để liên hệ nhau, hầu bắc cầu cho tương lai thông đồng, khỏi bề bợ ngợ …”.

            Thầy đã phong Đạo Trưởng Huệ Lương vào cấp Vĩnh Tịnh Sư trong Minh Lý và phong Đạo Trưởng Liên Hoa vào Tịch Đạo của Minh Lý với Thánh danh Khai Tịch.

            Theo lệnh Ơn trên, Đức Minh Thiện ra công hướng dẫn tạo dựng xong ngôi Bác Nhã Tịnh Đường tại Long Hải, tỉnh Bà Rịa, vào năm 1971.

            Đạo Trưởng Huệ Lương đã tích cực hỗ trợ cho chương trình tu tịnh tại Bác Nhã Tịnh Đường, đại diện Hội Thánh Truyền Giáo và Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý tham dự các khóa tịnh “bốn khối” theo như Ơn trên đã dạy, gồm Hội Thánh Truyền Giáo, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Hội Thánh Tiên Thiên và Minh Lý Thánh Hội. Đặc biệt để chuẩn bị cho khóa tu Đông Chí 1974, ngày 9 tháng 12 Đức Đông Phương Lão Tổ có dạy:

            “…Đợt tu giữa “bốn khối” cộng đồng tại Bác Nhã Tịnh Đường để hết lòng thành mà cầu nguyện cho Đại Đạo hưng minh, đồng bào thoát khổ, đất nước hanh lợi. Chắc điều kiện quan trọng nầy chư Thiên ân sẵn sàng đặt mình trong ơn điển hóa giải mọi khó khăn, nên Bần Đạo ra lịnh cho chư Thiên ân sứ mạng danh sách nam nữ mỗi Hội Thánh và Cơ Quan được đặc ân trong khóa I:

            Tiên Thiên: Đầu sư Ngọc Huỳnh Tinh, Bảo Thế Huệ Linh

            Cơ Quan Phổ Thông: Thiện Bảo, Chí Tín, Chơn Tâm, Kiến Minh, Chí Mỹ, Ngọc Huệ Chơn, Bạch Lương Ngọc.

            Truyền Giáo: Huệ Lương, Liên Hoa.

            Còn nam nữ Thiên ân Minh Lý Thánh Hội tùy các hiền đồ sắp xếp…”.

            Trong khóa tu này, ngày 26 tháng 12 năm 1974, Đức Đông Phương Lão Tổ có giáng đàn dạy:

            “…Riêng về “bốn khối” thì đã coi nhau là huynh đệ, cũng nên đặt mối tương quan chặt chẽ hầu tiến đến một gia đình Đại Đạo. Nhứt là các hiền đồ cần được tu chứng, cần được học hỏi qua phần tâm truyền bí pháp, để xây dựng cho mình một Thiên ân khả dĩ đủ xứng đáng chiếm một địa vị giữa các tôn giáo trong xã hội, hầu làm cho họ thấy rõ sứ mạng “tâm pháp dung hòa”, đồng nhứt cùng thiên hạ tiến đến đại đồng”.

            Về sau, vì tình trạng giao thông khó khăn, Thánh Tịnh Tân Minh Quang được Ơn Trên dạy thay thế Hội Thánh Tiên thiên cho đủ ”bốn khối”.

            Sau khi Đạo Trưởng Huệ Lương qui vị, Ngài được Thầy ân phong tiên vị Quảng Đức Chơn Tiên vào ngày 8 tháng 7 năm 1981 tại Tam Tông Miếu và trong dịp này cố Đạo Trưởng có vài lời nhắn nhủ cùng chư Thiên ân đạo hữu với đoạn Thánh giáo sau đây:

“Chư Thiên ân sắc son gìn giữ,

Giữ Đạo Trời tuần tự hóa hoằng;

Trung Hưng, Minh Lý, Cơ Quan,

Tuy ba mà một chu toàn đồng thân”.

            Trong hiện tình, các khóa tu tịnh tại Bác Nhã Tịnh Đường vẫn được tổ chức với sự tham dự của “bốn khối”. Ngoài ra, sự liên giao hành đạo giữa Minh Lý Thánh Hội và các Hội Thánh, Thánh thất, Thánh tịnh cùng Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo vẫn được diễn tiến tốt đẹp về nhiều phương diện như trong các lễ Kỷ niệm, các lễ Vía các Đấng Thiêng Liêng, các chương trình văn nghệ và sinh hoạt của các đoàn Thanh thiếu niên trong Đại Đạo, các cuộc cứu tế, cứu trợ thiên tai bão lụt hằng năm, v.v..

            Tình linh sơn cốt nhục giữa các con cái của Đức Chí Tôn không phân biệt câu kinh sắc tướng, chắc chắn được trường tồn nhờ sự hộ trì của chư Phật Tiên Thánh Thần để sớm lập đời Thượng Nguơn Thánh Đức và trở về hội hiệp cùng Đấng Cha chung của nhân loại.

            Rất lòng thành tín.

(Bài đã đăng trong tập Đạo Mạch Lưu Thông - HTTG Cao Đài)


0 Bình luận