CHÚ GIẢI THÁNH GIÁO DẠY TỨ LINH ĐỒNG TỬ TRUYỀN ĐẠO TRUNG KỲ

CHÚ GIẢI THÁNH GIÁO DẠY TỨ LINH ĐỒNG TỬ TRUYỀN ĐẠO
TRUNG KỲ
 
Thánh Tịnh Đại Thanh, ngày 24.7-ĐĐ.09 (Giáp Tuất) (02.9.1934)
THI
BẠCH nhựt thanh thiên hiển hiện thân,
HẠC nghinh Thánh chỉ giáng lâm trần;
ĐỒNG loan tá thủ khai Tiên bút,
TỬ mạng đàn trung trật tự phân.
Khá tiếp nghinh Long giá Đức NGỌC HOÀNG ngự Đàn, nghe chư Hướng Đạo.
Chú giải:
- Trong Hồi ký của Đạo trưởng Thanh Long ghi ngày 24/8/Giáp Tuất, có thể do trí nhớ của tác giả nên khó chuẩn xác.
Bài cơ tại Thánh tịnh Đại Thanh, một trong 72 Thánh tịnh của Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên, nơi có lệnh huấn luyện bộ phận Tứ linh Đồng tử cho sứ vụ truyền Đạo Trung kỳ,
Đầu tiên, lâm cơ báo đàn là Bạch Hạc Đồng Tử, ngài đã thông báo cho toàn đàn biết chuẩn bị nghinh đón Đức Chí Tôn giáng điển.
TIẾP ĐIỂN:
THI
NGỌC chỉ ban ra dạ nghẹn ngùng,
HOÀNG cầu thế giới vẫn Trời chung;
THƯỢNG cờ qui nhứt minh Chơn Đạo,
ĐẾ mạng chừ ai gánh vác cùng?
Chú giải:
- Hai từ: hoàn cầu và hoàng cầu có thể hiểu tương tự nghĩa.
-Hoàn: Vùng cõi rộng lớn. Hoàn cầu: Thế giới. Hoàn vũ…
-Hoàng: lớn. Hoàng cầu: quả cầu lớn, ý nói đến Quả đất của chúng ta đang sống.
Bốn câu thi khoán thủ là danh hiệu của Thầy: Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bốn câu ngầm cho thấy việc ban ra sắc chỉ (cho Tứ linh Đồng tử về Trung) là việc mà Thầy cũng lấy làm ngần ngại, xót xa; sứ vụ giương cao cây cờ, sáng tỏ chơn lý Đạo ấy biết trao ai? (sao lại là những thanh thiếu niên như 4 chàng trai đồng tử này?)
Thầy rất vui cho đàn hôm nay các con chí thành mà bàn đến Thiên cơ. Thầy rất lo cho các con, xoay tròn ngày qua tháng qua, qua rồi thấy mất, cơ âm dương phát động, cuộc thế giới đao binh, trước từ Đông phương cho đến Tây phương, các sắc dân, các chủng tộc, phải chịu vào cảnh tiêu diệt, máu chảy thành sông, xương chồng thành núi.
Than ôi! Chính mình Thầy đến khua chuông cảnh tỉnh, đánh trống giác mê, gây thuyền Bát Nhã, phất cờ qui nguyên, lấy câu nhẫn nại và tình thương mà làm hướng đạo để qui tụ các con đem về một mối. Cái mối mà Thầy cắt cho các con đây, chính là mối chung thiên hạ, chẳng phân Nam Bắc, chẳng luận Đông Tây, bắt tay nhau đi đến thế giới hòa bình “Nhơn nhi vô nhơn, ngã nhi vô ngã”. Còn cuộc quả báo lịch kiếp giảm tăng là lý đương nhiên của nhân loại.
Chú giải:
 -Thầy đã xác định chính Thầy đến mở đạo không giao chánh giáo cho tay phàm như trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đã dạy trước đây.
-Gây thuyền Bát Nhã: gây tạo ra con thuyền Đạo pháp Vô vi,  vô ngã, thấu cảm bằng trí tuệ siêu việt.
Cái mối đạo về Trung được thầy cắt phần đặt để cho các Tiền bối nhận lãnh. Thoáng thấy sứ mạng: chung Thiên hạ, tứ phương dắt nhau đến hòa bình, đại đồng: người mà không riêng người, ngã mà không tư ngã.
-Lịch kiếp: trải qua nhiều kiếp
Than ôi! Thế mà tại nước Việt Nam chưa thành lập thì Thánh địa chưa hoàn toàn, nên không mong chi đến vạn quốc thiên bang “Nội bất tề, hà nhi an ngoại” các con tập theo các người thương đời mến Đạo mà quyết tâm, dù có khó khăn chi đi nữa, cũng quyết hy sinh lấy vai tuồng, dù tướng, dù kép tuy phận sự khác nhau mà thành công có một.
Bây giờ một phận sự quan hệ là truyền Đạo Trung Kỳ. “Bang! THẦY sai con và Tứ Linh Đồng Tử khá kíp về Trung đặng hoát khai Chơn Đạo. Con tính sao?”
Trần Công Bang bạch: “Con không đủ sức”.
“Vẫn biết việc về Trung là khó, các con phải khó hơn hết, mà không sao đâu con, chi chi cũng có THẦY, nếu THẦY sai một đứa nào có tên tuổi thì e không khỏi có điều trắc trở. Vậy con chớ chối từ”.
Chú giải:
-“tại nước Việt Nam chưa thành lập”: ý nói đạo chưa lập thành trọn vẹn thì Thánh địa chưa hoàn toàn.
-Hà nhi: sao mà
-“tập theo các người thương đời mến Đạo”: ý nói noi gương các bậc có tinh thần thương đời mến Đạo.
Thầy đã xác định một trách nhiệm lớn lao: hoát khai Chơn Đạo tại Trung kỳ, giao cho đoàn Tứ linh Đồng tử.
Tiền bối Trần Công Bang đã tự lượng sức mình một cách chân thành chứ không phải từ chối.
-Chi chi cũng có Thầy”: đúng tinh thần lời dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
-"nếu THẦY sai một đứa nào có tên tuổi thì e không khỏi có điều trắc trở": Đây là lý do mà Thầy đã chọn lựa những con người trẻ trong công cuộc truyền Đạo Trung Kỳ. (ngài Nguyễn Ngọc Thơ, Hội Đồng Thẩm Án tại Tam Tòa Sài gòn, tất cả trước sau được thưởng 7 Huân chương với 2 tấm Kim Khánh, Kim Tiền, sau nhận hàm Tri huyện, Quan phủ Vương Quang Kỳ ra Bình Định, ngài Thái Văn Gấm (làm trong ngành ngân hàng) ra Quảng Nam đều trở về mà không được việc.
THI
Khó nhọc chi chi cũng vẹn lòng,
THẦY giao phận sự khá làm xong;
Đường trường ví có xa nghìn dặm,
Thuận gió buồm trương cũng dễ hòng.
                                            
Dễ hòng bảng hổ đặng đề tên,
Tâm vẫn trơ trơ chí vẫn bền;
Đã quyết hy sinh cùng nhiệm vụ,
Chi nài đột pháo với xông tên.
BÀI
Tên nêu lên bảng Đại đồng,
Khó khăn nào nệ mặn nồng quản chi,
Con tuân mạng Trung Kỳ khai Đạo,
Thầy đến đây chỉ giáo Thiên cơ;
Giờ này lặng lẽ như tờ,
Điển quang đưa đến Thần cơ chuyển truyền.
Chú giải:
-Bảng hổ: Do chữ hổ bảng. Hổ: cọp, bảng: tấm gỗ đề tên người thi đỗ. Hổ bảng dùng để chỉ khoa thi lấy được nhiều hiền tài. Ý Thầy muốn nói các tiền bối đang ở trong trường thi Công quả của Đạo do Thầy mở ra.
-Bảng Đại đồng: Bảng hổ kia chính là bảng nêu tên kết quả thí sinh vào trường thi dựng xây công cuộc Đại đồng nhân loại của Cao Đài
Trong Tam thiên Đại thiên thế giới,
Từ Đông phương cho tới Tây phương;
Chiến tranh xung đột gây thường,
Tây phương tán huyết, Bình Dương lưu hài.
Chú giải:
-Tam thiên Đại thiên thế giới: lối dùng cũ của nhà Phật về vũ trụ: 3000 đại thiên thế giới. Quan điểm đạo Cao Đài là 3000 thế giới
-Bình Dương: Nói tắt Thái bình dương.
-Lưu hài: lưu giữ thi hài, xác chết.
Thảm thiết nỗi, đắng cay nhiều nỗi,
Đau đớn thay! Bực bội lắm thay!
Trách con ác nghiệt gây hoài,
Thành oan biển nghiệt biết ngày nào vơi!
Cuộc dâu bể nay dời mai đổi,
Mảnh thân sanh bảy nổi ba chìm;
 Xoay vần trên cõi phù diêm,
Thạnh suy mấy lúc, cổ kim mấy lần.
Chú giải:
-Do cái nhân xấu bởi các con ác nghiệt hay ác nghiêp mãi gây tạo nên quả ngày nay là "thảm thiết đắng cay nhiều nỗi".
-Phù diêm: Diêm phù đề: tên gọi cõi thế gian theo nhà Phật.
Buồn lòng đến hồng trần kêu nhắc,
Đưa tay ra dìu dắt các con;
Lời êm ái, tiếng ngọt ngon,
Giác mê trống đánh tỉnh hồn chuông ngân.
Hỡi than ôi! Dân dân nước nước,
Hỡi than ôi! Tước tước quyền quyền;
Nỗi động địa, nỗi kinh thiên,
Nhơn sanh ra đỗi! Thần Tiên giáng trần.
Chính mình Thầy hóa thân Tam giới,
Mở Đạo Trời qui hội Đông Tây;
Bắc Nam vẫn cũng một Thầy,
Qui nguyên vạn phái hiệp vầy Thiên Tông.
Chú giải:
-"Giác mê trống đánh…": Hình ảnh đánh chuông trống ngân vang lên các âm thanh như giúp tỉnh ngộ giác mê cho con người.
Chính vì trong hoàn cảnh khổ đau kinh thiên động địa ấy, gọi là đời mạt kiếp mà Thần Tiên đồng giáng hạ. Nhưng cũng chính là Thầy hóa thân trong ba cõi để mở đạo, thần tiên theo lệnh Thầy mà đến mở Đạo. Và xác lập Đạo của Trời Đất mở ra qui hội 4 phương, vạn phái thành một tông thôi: Thiên tông.
Chính mình Thầy hóa thân Tam giới,
Mở Đạo Trời qui hội Đông Tây;
Bắc Nam vẫn cũng một Thầy,
Qui nguyên vạn phái hiệp vầy Thiên Tông.
Cuộc hòa bình chung trong thiên hạ,
Cơ qui nguyên gốc ở Cao Đài;
Tuyên truyền chừ biết cậy ai?
Còn trong nước Việt chưa ngoài vạn bang.
Thầy đã lắm lúc than lúc thở,
Con dạ nào mà nỡ mà đành;
Hiệp nhau cả em cả anh,
Trung Kỳ con kíp khởi hành mau mau!
Nghe Thầy dặn trước sau nông nỗi,
Để con ra mở mối Đạo Trời;
Quyết tâm vì Đạo vì Đời,
Mảnh thân đạp đất đội Trời quản bao.
Chú giải:
-Công cuộc đại đồng qui nguyên là chủ trương,tôn chỉ  mục đích của Cao Đài. Việc truyền giáo không chỉ ở Việt Nam mà còn cả vạn bang thế giới mới đúng ý Thầy Trời.
Vậy nên, giờ đây đoàn con phải lo hiệp nhau lo công cuộc truyền đạo Trung kỳ.
Trước khi lên đường, Thầy dặn dò trước sau, đừng nao núng trước khó khăn. Thầy mượn hình ảnh đoàn người chèo thuyền ra khơi phải phân chia công việc, phối hợp nhịp nhàng ăn ý.
Bước lên đường đừng nao đừng núng,
Thuyền ra khơi rán chống rán chèo;
Đứa nắm lái, đứa giữ lèo,
Tùy theo ngọn gió bỏ dèo bươn bươn.
Chú giải:
-Lèo: dây gióng lá buồm.
-Dèo: phương thế, mòi
Giáp nơi nơi phô trương quảng đại,
Ất con còn mắc phải tai nàn;
Thanh, Từ trổ mặt Quang, Quang,
Hiệp Thiên sớt gánh chia đàng Bắc Trung.
Chú giải:
-Giáp: năm Giáp Tuất: 1934. "Giáp nơi nơi phô trương quảng đại": năm Giáp Tuất cơ đạo về Trung  truyền bá. Trong khi ở miền Nam, các chi phái cũng truyền bá mở mang khắp nơi, như nhánh đạo Tiên Thiên, theo Thánh ý xây dựng hoàn thành khắp nơi 72 Thánh tịnh; Năm  này (18,19,20/5/1934) tại Minh Chơn Đạo, Ngài Cao Triều Phát tổ chức Hội lý đạo Công đồng Giáo lý tại TT Ngọc Phước Đàn (Bạc Liêu), gồm nhiều tôn giáo (Phật, Tin lành, Thiên chúa, Nho giáo, các phái Cao Đài lúc ấy) xướng minh giáo lý tôn giáo mình và đạo Cao Đài góp tiếng vang về công khai giáo lý của nền đạo mới cho mọi người khắp miền Nam lú ấy biết (có xuất bản sách)
-"Ất con còn mắc phải tai nàn": Ất Hợi, năm này đạo truyền ở Điện Bàn, ngày 1/6/AH khánh thành Thánh tịnh Thanh Quang, tại nhà của ngài Nguyễn Quang Châu hiến. Sau lễ, hai Ngài Châu và Đán bị Tri phủ Điện Bàn phạt án 2 tháng tù treo.
-"Thanh Từ trổ mặt quang quang": Tiên báo trước việc thành lập Thánh tịnh Thanh Quang, Thánh thất Từ Quang. Ngày 15/11/GT: Thanh Quang tại tư gia Nguyễn Quang Châu, ngày 1/12/GT: Từ Quang tại nhà ông Xã Xước Trần Công Trác.
-"Hiệp Thiên sớt gánh chia đàng Bắc Trung":
Cuối tháng 3 đầu tháng 4/ Ất Hợi Kim Qui phát bệnh lạ, cặp đồng tử Qui -Lân gián đoạn. Trước đó ngày 23 tháng 11, Giáp Tuất bà Mục Cưu qua đời vì bệnh 12/4/ AH chị Mai thị Lê vợ Lê Văn Bặc lại quy thiên. Đến ngày 4/6/AH Bạch Phụng đột nhiên quy thiên. Trong khi đó, Kim Quy đau đớn trên giường bệnh, chới với trong sự cầu nguyện, chao đảo trong niềm tin và quy liễu ngày 3/9/AH. Sau này, Bạch Phụng về cơ cho biết Kim Quy phải tái sanh làm người tại xứ Bắc tỉnh Yên Bái, trong nhà họ Lý.
Thế là bộ phận Tứ linh đồng tử thuộc cơ quan Hiệp Thiên Đài đã rẽ gánh hoàn toàn.
"Hiệp Thiên" ở đây còn được hiểu là Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân. Ngài đã được Thầy giao nhiệm vụ thay mặt đức Lý Giáo Tông, sớt gánh nặng cùng Ngài làm Tổng lý vô hình dìu dắt cơ đạo Bắc Trung.
Thử ngoảnh mặt cắm chừng cây thử,
Ngưu dương mày lên nhử sao Ngưu;
Bại rồi hiệp, liệt rồi ưu,
Cọp cười đạo đức trào lưu dẫy đầy.
Trung từ đây đắp xây Chánh Đạo,
Nam xướng lên kế hảo đoàn viên;
Kẻ thống nhất, người qui nguyên,
Cơ quan sắp sửa tuyên truyền vạn linh.
Trong cái bước hành trình gay trở,
Kiếm ra thầy tớ cũng phân vân;
Trăm năm gẫm có mấy lần,
Cái phần khó nhọc là phần thưởng công.
Chờ một lúc cho rồng trổ mặt,
Hiệp sức nhau dìu dắt nhau ra;
Tan cũng hiệp, nghịch cũng hòa,
Tây lân có bạn, Đông gia có thầy.
Chú giải:
-Thử: Tý, năm Bính Tý-1936; cây thử: có thể là cây đuôi chuột. Ngưu: Đinh Sửu- 1937; sao Ngưu hay Ngưu Kim Ngưu là tên gọi của một trong hai mươi tám chòm sao Trung Quốc cổ đại (nhị thập bát tú). Nghĩa đen của nó là con bò và con vật tượng trưng là con bò vàng (Ngưu Kim Ngưu). Nó là chòm sao thứ hai trong 7 chòm sao thuộc về Huyền Vũ ở phương Bắc, tượng trưng cho Kim của Ngũ hành. Năm 1936, ĐH Long Vân đệ tam, tại Thánh tịnh Trước Mai (Cần Thơ), đổi tên Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Liên Đoàn thành CĐĐĐ Liên Hòa Tổng Hội, ĐT Trần Văn Quế làm Tổng thư ký, Nguyễn Phan Long làm Hội trưởng, với đường lối chủ trương: liên giao, thống nhứt, quy nguyên nền Đạo và tuyên truyền thuyết đạo khắp chúng sanh. (Nam xướng lên kế hảo đoàn viên, kẻ thống nhất người quy nguyên, cơ quan sắp sửa tuyên truyền vạn linh… trong lúc miền Trung đang mở đạo: Trung từ đây đắp xây chánh đạo)
-"Bại rồi hiệp, liệt rồi ưu": 2 lần ĐH LV 2,3 không thành công. Sau đó hiếp lại đổi tên như trên
Cọp : Mậu Dần -1938. "Cọp cười đạo đức trào lưu dẫy đầy": Vào thập niên 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo rầm rộ có thể nói được khởi xướng từ Thiền sư Khánh Hòa tại miền Nam, thiền sư Phước Huệ tại miền Trung, và thiền sư Thanh Hanh tại miền Bắc. Phật giáo ở miền Trung với trung tâm là Huế đã khởi đầu những sự cải tổ đánh dấu mốc chuyển biến thành một nền Phật giáo hiện đại, làm mẫu cho toàn quốc. (cụ Lê Trí Hiển sợ Cao Đài dùng quốc ngữ không phát triển so với Phật giáo, nhất là gần xứ Huế). Đại Hội Long Vân đệ bát khai mở rầm rộ tại ĐN.
-"Chờ một lúc cho rồng trổ mặt, Hiệp sức nhau dìu dắt nhau ra": chờ Đại Hội Long Vân đệ bát khai mở, cả phái đoàn Đạo đông đảo miền Nam kéo ra Trung dự Hội. Có những trái ý bất đồng, mâu thuẫn rồi cũng tốt đẹp khi Khánh thánh Trung Thành và ĐH Long Vân đệ bát.
Bang nặng gánh đôi vai trìu trịu,
Khó nỗi trung, nỗi hiếu, nỗi tình;
Đường dê chân bước gập ghềnh,
Dầm mưa dãi gió thân mình quản chi.
Thầy dặn con những khi vắng vẻ,
Con đề phòng những kẻ như con;
Nhẹ lòng lấp bể dời non,
Sao mà cho đáng làm con của Thầy.
Chú giải:
-Những lời khuyên Tiền bối Trần Công Bang liên hệ đến sự cân nhắc trong nội tâm về gia đình và đạo. Cũng tiên báo cho ông cẩn trọng thời gian tới. "Những kẻ như con": có thể hiểu ý nói anh em, vợ con của ông. Sau này ông ảnh hưởng lớn bởi gia đình để chọn hướng khác. Tu theo Phật giáo Nguyên thủy mà ông Hai Thự, anh ruột, đã tham gia CM, rồi bỏ Đạo theo Phật giáo Nguyên thủy…
Đường dê: Dê có khả năng tự cân bằng một cách tuyệt vời ngay cả ở những môi trường có địa hình gồ ghề, bấp bênh. Đặc biệt một số loài sống ở vùng núi có thể trèo cây một cách dễ dàng hay một số khác thậm chí còn có thể đứng được ở trên các vách núi cheo leo. Theo Tự điển Đại Nam quốc âm tự vị: Đường xa xôi, hiểm trở.
Giang đã biết nơi đây là khổ,
Quyết đem mình đến chỗ vô sanh;
Dốc lòng cùng bạn cùng anh,
Làm trai nghĩa vụ hy sinh mới là.
Thầy đã nói Đạo là phương thuốc,
Con phải nhìn đời cuộc đa mang;
Bệnh nhân gặp đặng danh lang,
Còn vương lấy bệnh tại chàng muốn vương.
-Những lời khuyên Tiền bối Thân Đức Giang, nhất là ý bệnh nhân đã gặp thuốc, mà không chịu lành bệnh là do tâm mình còn vương nợ trần, hãy dốc lòng tu cầu giải thoát về chỗ vô sanh.
Thanh Long con đường trường giục ngựa,
Mảnh thân sanh đứng giữa trần gian;
Vui chi cười, buồn chi than!
Hãy còn cay đắng con càng nên con.
Tranh thiên cổ nét son tô điểm,
Hội Vạn Linh thử kiếm anh tài;
Nhấm biết đắng, nếm biết cay,
Phải người vì Đạo hiếm tay thương Đời.
Chú giải:
-Tiên báo về sứ mạng đạo trưởng Thanh Long trên đường dài của cơ nghiệp Đạo, trải qua bao gian khổ đắng cay.
Cuối năm Mậu Dần 1938, Thầy đã dạy mở hội Vạn Linh thành lập Quyền Hội Thánh Trung Kỳ, chuyển giáo nhiệm vụ Tổng lý từ Đức Quan Thánh sang Trần Hưng Đạo, tổng kết 5 năm truyền đạo tại Trung, mở các tiểu hội Vạn linh ở các TT, cổ động nông viện. Một tay cầm cần cơ là ngài Thanh Long, trong sự theo dõi bắt bớ của chính quyền.
Bạch Phụng con mệnh Trời phụng lãnh,
Gánh nhơn sanh là gánh chung cùng;
Vì ai, ai đợi, ai trông?
Cây Ngô dấu Phụng đã không thấy rồi!
Chú giải:
-Tiên báo về Tiền bối Bạch Phụng sớm từ bỏ cõi trần về Tiên: “Cây ngô dấu Phụng đã không thấy rồi”. Cây ngô đồng mà chim Phụng không thấy đến đậu nữa. Theo truyền thuyết, chim phượng hoàng thường thích đậu trên cây ngô đồng. Có tích như sau:
Khi xưa, vua Phục Hy tình cờ trông thấy năm vì sao rơi xuống cây Ngô Đồng và một lát sau, chim Phụng Hoàng liền bay đến đậu. Nhà vua biết Phụng là chúa của các loài chim, do vậy cây Ngô Đồng hẵn là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa Đất Trời, có thể chế đồ nhã nhạc, liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn để phân tam tài (Thiên, Địa, Nhân). Đoạn ngọn thì tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc thì tiếng quá đục và nặng, duy đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được. Nhà vua liền lệnh đem ra giữa dòng sông nước chảy ngâm, đúng bảy mươi hai ngày đêm, vớt lên phơi khô, chọn ngày tốt, gọi người thợ khéo Lưu Tử Kỳ chế làm nhạc khí, bắt chước nhạc Cung Dao Trì, đặt tên là Dao cầm. Đàn lên, có thể làm hổ nghe nín kêu, vượn nghe nín hót…
Kim Qui con thì thôi nhơn sự!
Cuộc tuần huờn hỏi thử sao đây?
Bươn theo cho kịp gót Thầy,
Cam lai khổ tận hiếm ngày đó con!
Xich Lân nhớ lo tròn nhiệm vụ,
Cùng anh em vẹn giữ thỉ chung;
Phong sương tùng mới phải tùng,
Đường xa vững chí ngại ngùng chi con!
Chú giải:
-Bài cơ bút này do chính hai đồng tử Kim Quy và Xích Lân thủ cơ. Qua bài cơ, những đoạn điểm hồng danh tiên báo cho chính 2 đồng tử này mới thấy sự linh hiển của cơ bút. Tiền bối Thanh Long lúc này từ Sài Gòn đã về quê hồi tháng 6, Giáp Tuất để lo cho ngày 15/7 mãn tang cha.
-Kim Quy được dự báo trước sự khổ nạn sẽ đến. “Cam lai khổ tận hiếm ngày đó con”. Cam: ngọt, khổ: đắng, ý nói ngày mà sự ngọt ngào đến được và cái vị đắng của đời sẽ hết tuy là sẽ khó có nhưng sẽ đến, sẽ có ngày như thế (với điều kiện bươn theo cho kịp gót Thầy)!1/4/AAH 1935 KQ mất
-Xích Lân nhắc giữ thủy chung, như dự báo trước sau này Xích Lân từ bỏ con đường sứ vụ trong Đạo, sau khi không còn cặp đồng tử với Kim Quy và chứng kiến khảo đảo cũng như trong gia đình người anh cả hoạt động CM dẫn dắt cả GĐ theo.
Châu độc giả lo tròn độc giả,
Phận sự con Thầy đã định phòng;
Bao giờ Hổ hội cùng Long,
Bên ngoài sắp đặt bên trong an bài.
Này các con thân trai nặng nợ,
Chí tang bồng mựa chớ đơn sai;
Tuần hoàn con ác xoay xoay,
Non sông rồi cũng có ngày lạc quan.
Đưa nhơn loại lên đàng thoát khổ,
Dắt đồng bào đến chỗ tự do;
Nước Trời cơm Đất ấm no,
Thiên bang vạn quốc diễn trò Thuấn Nghiêu.
                                                            Thăng./.
Chú giải:
-Dự báo trước về tiền bối Trần Quang Châu ban đầu là độc giả, sau này sẽ trở thành một cặp đồng tử với Thanh Long, khi Tứ linh tan rã giữa đường.
-Hổ và Rồng là 2 con vật linh thiêng, áo vua thêu rồng, áo quan thêu cọp. Trong con người tu, ý nghĩa long thăng hổ giáng rất quan trọng là lẽ âm dương hòa hợp, long dương, hổ âm, ý của quẻ Địa Thiên Thái, con người trời đất vạn vật tốt đẹp.

Qua những trình bày có tính giải mã những tiên tri về tiến trình truyền đạo về Trung, đức tin chúng ta càng xác lập mạnh mẽ với cơ bút và đặc biệt với công cuộc Truyền đạo Trung Kỳ. Tất cả nằm trong sự đặt để của Thiên cơ.

Vạn Ấn
  
Hình kỷ niệm bộ phận Thông công Hiệp Thiên Đài
Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài

0 Bình luận